Welcome, Khách Viếng Thăm.

Nếu đây là lần đầu bạn ghé thăm diễn đàn, xin mời bạn xem phần Hướng dẫn đọc và xem eBook. Hoặc bạn cũng có thể ghi danh để theo dõi và tham gia thảo luận cùng chúng tôi.

Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh Cho phép nhiều nhóm cùng dịch 1 tác phẩm để học hỏi kinh nghiệm dịch thuật...

Trả lời
Old 06-08-2012, 12:22 PM   #1
thichankem
Học sinh
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 57
Xin cảm ơn: 942
Được cảm ơn 54 lần trong 36 bài
Lightbulb Kẻ may mắn - Nicholas Sparks ( bản tổng hợp hoàn thành trước 17/08/2012)

Chương 1: Clayton và Thibault
(Người dịch: thebluesky88)

Trung úy Keith Clayton không nghe thấy tiếng họ đến, và khi đến gần, anh lại càng không có chút thiện cảm nào với vẻ bề ngoài của họ. Một phần là do con chó. Anh không thích giống chó chăn cừu Đức, và con chó này, mặc dù đang đứng yên, lại khiến anh nhớ đến con Panther, con chó cảnh sát đi cùng trung úy Kenny Moore, con chó mà chỉ cần một cử chỉ ra dấu nhỏ cũng có thể khiến nó nhanh chóng lao vào cắn hạ bộ của nghi phạm. Hầu như lúc nào anh cũng cho rằng Moore là một thằng ngốc, nhưng gã lại gần như là thằng bạn thân nhất của anh trong sở, và phải thừa nhận rằng Moore có một cách kể về ba cái chuyện cắn vào hạ bộ này hài hước đến mức khiến Clayton phải cười lăn cười bò. Và Moore chắc chắn cũng khoái mấy trò tiệc tùng khỏa thân mà Clayton vừa phát hiện ra, khi anh theo dõi một vài cô nữ sinh tắm nắng gần con sông dưới ánh huy hoàng của sáng sớm. Anh vừa đi khỏi đó có vài phút và chỉ mới chụp được vài bức ảnh bằng chiếc máy ảnh số trước khi anh thấy cô gái thứ ba xuất hiện từ phía sau bụi tú cầu gai. Sau khi giấu chiếc máy ảnh trong bụi cây, anh bước ra từ sau cái cây, một lúc sau anh và cô nữ sinh kia đã mặt đối mặt với nhau.
“Chà, có chuyện gì thế này?” anh lè nhè, cố tình trấn áp cô gái.
Anh không thích bị bắt quả tang, cũng như không hài lòng với câu nói chán ngắt vừa nãy của mình. Thông thường anh nói năng lưu loát hơn thế. Lưu loát hơn nhiều. May mắn thay, cô ả này quá xấu hổ đến mức chẳng nhận ra được điều đó, cô suýt vấp ngã khi cố gắng bước lùi lại. Cô lẩm bẩm cái gì đó nghe như câu trả lời trong khi cô gắng che chắn mình bằng hai tay. Giống như là đang xem ai đó chơi trò Twister một mình vậy.
Anh chẳng thèm liếc đi chỗ khác. Thay vào đó anh mỉm cười, giả vờ không quan tâm đến thân hình của cô, cứ như thể chuyện anh tình cờ gặp những người phụ nữ khỏa thân trong rừng là rất thường xuyên. Anh có thể đoán chắc là cô gái này không biết gì về cái máy ảnh.
“Bình tĩnh nào. Có chuyện gì?” anh hỏi.
Anh thừa biết chuyện gì đang diễn ra. Nó xảy ra vài lần vào mỗi mùa hè, nhưng đặc biệt vào tháng Tám: Những nữ sinh từ Chapel Hill hoặc NC State, đổ xô đến bãi biển để thưởng thức kỳ nghỉ dài cuối tuần lần cuối tại Cồn Emerald trước khi học kỳ mới bắt đầu, họ phải vòng qua một con đường rừng ngoằn ngoèo gần cả dặm đến rừng quốc gia trước khi đến được chỗ nhánh sông Swan rẽ khúc vào sông South. Có một bãi đá cuội nổi tiếng vì màn tắm nắng khỏa thân – tại sao người ta lại làm thế ở đây thì anh hoàn toàn không biết – Clayton thường cố tình thỉnh thoảng đi ngang đây phòng khi anh gặp may. Hai tuần trước, anh bắt gặp sáu cô ả khá dễ thương: hôm nay, ít hơn, chỉ có ba cô, và hai cô nằm trên khăn tắm từ nãy giờ cũng đã bắt đầu lấy chiếc áo sơ mi của mình. Mặc dù một ả trong số họ hơi to con, nhưng hai ả còn lại – bao gồm cả cô tóc nâu đang đứng trước mặt anh – có một thân hình có thể khiến mấy gã sinh viên phát điên. Cả những anh chàng trung úy cũng thế.
“Chúng tôi không biết có người ngoài này! Chúng tôi nghĩ là tắm ở đây thì không sao!”
Khuôn mặt cô ả mang một vẻ ngây thơ đến mức khiến anh nghĩ rằng “Liệu bố của cô ta có tự hào không khi ông ta biết cô gái của mình đang âm mưu chuyện gì?” Anh buồn cười khi tưởng tượng ra những điều cô ả có thể trả lời, nhưng bởi vì đang mặc quân phục, anh biết mình phải nói cái gì đó ra vẻ nghiêm túc. Bên cạnh đó, anh biết rằng nếu mình làm quá thì sẽ gây ra tin đồn rằng có một chiếc xe cảnh sát hay tuần tra khu vực này, khi đó sẽ chẳng còn cô nữ sinh nào đến đây nữa, và đó là điều mà anh chẳng muốn xảy ra chút nào.
“Đi nói chuyện với các bạn của cô nào.”
Anh theo sau cô ả đến bãi tắm, ngắm nhìn thích thú cảnh tượng cô ả cố gắng che chắn phần phía sau của mình một cách vô ích. Trước khi họ bước đến được bờ sông từ chỗ rừng cây, hai cô ả kia đã mặc áo sơ mi vào rồi. Cô ả tóc nâu lật đật chạy đến, líu ríu với hai ả kia rồi nhanh chóng chộp lấy cái khăn tắm, đá đổ cả mấy vại bia. Clayton chỉ họ đến một cái cây gần đó:
“Các cô không thấy bảng cấm à?”
Các cô ả đưa mắt nhìn nhau một cách dụng ý. Người ta luôn giả nai, chỉ chực chờ đế chống lại những mệnh lệnh, anh nghĩ. Cái bảng cấm nhỏ, một phần bị giấu sau mấy cành thấp của cây sồi già đã được dựng lên theo mệnh lệnh của thẩm phán Kendrick Clayton, người chú của anh. Cái ý dựng lên biển cấm là của Keith, anh biết là việc cấm một cách công khai chỉ góp phần làm tăng thêm sức hấp dẫn cho khu này.
“Chúng tôi không thấy!” cô ả tóc nâu thét lên, quay phắt về phía anh. “Chúng tôi không biết! Chúng tôi chỉ mới nghe tới chỗ này vài ngày trước!” Cô ả cứ tiếp tục phản pháo như thế trong khi chật vật trong chíêc khăn tắm, các ả khác thì sợ hãi đến mức chẳng dám làm gì ngoại trừ việc tròng lại cái quần bikini. “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến đây!”
Cô ả thốt lên như đang rên rỉ, giống như tiếng của mấy cô nàng sinh viên hư hỏng. Mà có lẽ họ đúng là như thế. Tất cả các cô ả đều trông ngon lành.
“Các cô có biết là hạt này cấm lõa thể ở chỗ công cộng không?”
Anh nhìn thấy những gương mặt trẻ trung càng lúc càng xanh xao, biết rằng họ đang tưởng tượng ra một vết nhơ trong hồ sơ của mình. Thật thú vị, nhưng anh lại tự nhắc mình không được đi quá xa.
“Tên cô là gì?”
“Amy” ả tóc nâu líu ríu. “Amy White”
“Cô từ đâu đến?”
“Chapel Hill. Nhưng thật ra tôi đến từ Charlotte”
“Tôi thấy có chất cồn ở đằng kia. Các cô đều đủ 21 tuổi chứ?”
Lần đầu tiên, các ả kia cũng trả lời. “Vâng.”
“Được rồi, Amy. Tôi sẽ cho cô biết tôi định làm gì. Tôi sẽ tin lời các cô rằng không thấy biển cấm và các cô đủ tuổi để uống chất có cồn, nên tôi sẽ không làm lớn chuyện. Tôi sẽ giả vờ như mình không có mặt tại đây. Miễn là các cô hứa không báo cho sếp của tôi biết là đã để các cô thoát”
Các cô ả có vẻ như còn chưa tin được.
“Thật vậy à?”
“Thật”, anh nói, “Tôi cũng từng học đại học.” Anh chưa từng học đại học, nhưng biết rằng nói thế thì hay hơn. “Và các cô nên mặc quần áo vào. Ai mà biết được – gần đây có thể có một tên lén lút nào đó.” Anh cười. “Và chắc chắn là các cô cũng dọn sạch mấy cái can bia đi nhé”
“Vâng thưa sếp.”
“Được rồi” Anh quay mặt bỏ đi.
“Chỉ vậy thôi à?”
Quay mặt lại, anh nhoẻn miệng cười lần nữa. “Chỉ vậy thôi. Chúc các cô vui!”
Clayton lẫn qua đám cây thấp, lom khom dưới mấy nhánh cây trên đường quay trở lại chiếc xe tuần, tự nghĩ là mình đã giải quyết tốt. Rất tốt nữa là đằng khác. Amy đã cười với anh, và khi quay mặt đi, anh còn định quay lại lần nữa để hỏi số điện thoại của cô. Nhưng không, sẽ tốt hơn nếu cứ đi như thế. Có thể các cô ả sẽ trở về và kể cho các cô bạn của mình rằng mặc dù bị bắt, nhưng vẫn bình yên vô sự. Tin đồn sẽ lan truyền rằng cục cảnh sát ở đây rất tuyệt. Dù sao đi nữa, khi băng qua rừng, anh hy vọng là những bức ảnh sẽ rõ. Chúng sẽ là một phần tuyệt vời cho bộ sưu tập nhỏ của anh.
Tóm lại, hôm nay là một ngày tuyệt vời. Anh sắp sửa quay lại lấy cái máy ảnh thì nghe tiếng huýt sáo. Anh lần theo tiếng động về hướng con đường mòn và nhìn thấy gã người lạ cùng con chó, đang đi bộ chậm rãi, trông có vẻ như mấy gã hippie từ thời sáu mươi.
Gã này không đi cùng các cô gái. Clayton chắc chắn như thế. Gã quá già để có thể là sinh viên đại học, còn nữa, gã chắc chắn đã ở khoảng 28 hoặc 29. Mái tóc dài của gã làm anh liên tưởng đến cái một cái tổ quạ, và trên lưng gã, Clayton có thể thấy cộm lên một cái lều ngủ từ cái balô vắt sau lưng. Không phải tiệc khỏa thân trên bãi biển, gã này trông có vẻ như đang đi leo núi, có thể là cắm trại ngoài trời. Không thể biết được gã đã ở đây bao lâu và đã thấy gì.
Giống như là việc Clayton đã chụp ảnh?
Không đời nào. Không thể được. Anh đã trốn khỏi con đường chính, đám cây thấp rất dày, và anh đáng lẽ sẽ nghe được tiếng người đi qua rừng. Đúng vậy không? Mặc dù vậy, chỗ này cũng khá kỳ quặc cho việc cắm trại. Họ đang ở giữa chống heo hút, và điều cuối cùng mà anh muốn là bắt gặp một vài lũ hippie thua cuộc chạy theo các cô gái.
Lúc đó, gã người lạ đã vượt qua anh. Hắn ta sắp sửa đi qua chiếc xe tuần và hướng đến chỗ chiếc Jeep của các cô gái. Clayton giộng chân xuống đường và khạc nhổ. Gã và con chó quay lại theo hướng tiếng động.
Từ khoảng cách, Clayton bắt đầu soi mói họ. Gã người lạ trông có vẻ không hề kinh ngạc bởi sự xuất hiện bất ngờ của anh, con chó cũng thế, và có điều gì đó trong cái nhìn của gã làm anh khó chịu. Giống như là gã đã biết trước anh sẽ xuất hiện. Con chó săn cừu Đức cũng thế. Nó có cái vẻ không thân thiện và cảnh giác cùng một lúc – thông minh, có thể - cùng một cách khi con Panther xuất hiện lúc Moore thả nó ra. Bao tử anh quặn lên. Anh phải tự ngăn mình không được che phần hạ bộ.
Một lúc lâu, họ vẫn tiếp tục nhìn chằm chằm vào nhau. Clayton đã học được rằng bộ đồng phục của anh làm người khác phải bối rối. Tất cả, ngay cả những kẻ vô tội, cũng bị bối rối khi dính dáng đến pháp luật, và anh cho rằng gã này không hề là ngoại lệ. Đó là một trong những lý do mà anh thích làm cảnh sát.
“Anh có dây xích chó chứ?” anh nói, làm ra vẻ như một câu ra lệnh hơn là câu hỏi.
“Trong ba lô của tôi.”
Clayton không nghe thấy một âm giọng nào. “Jonny Carson English”, như mẹ anh đã mô tả. “Mang cho con chó đi”
‘Đừng lo. Nó sẽ không cử động trừ khi tôi ra lệnh.”
“Cứ mang cho nó đi.”
Gã người lạ hạ ba lô xuống và lục lọi, Clayton nhướng cổ lên trước, hi vọng tìm thấy cái gì đó có thể là ma túy hoặc vũ khí. Một lúc sau, dây buộc được gắn vào vòng đeo cổ của con chó và gã người lạ nhìn anh như thể muốn nói “Rồi bây giờ thì sao?”
“Anh làm gì ở đây?” Clayton hỏi.
“Leo núi.”
“Cái túi đó quá to cho việc leo núi.”
Gã không nói gì.
“Hay là anh đang lén lút quanh đây, cố nhìn thấy cái gì đó?”
“Có phải đó là điều mà người ta thường làm ở đây không?”
Clayton không thích giọng điệu hay cách ám chỉ này. “Tôi muốn xem căn cước”
Gã người lạ nghiêng mình qua cái ba lô và lục lọi hộ chiếu. Anh ta ra dấu bằng một bàn tay xòe ra về phía con chó đế nó nằm xuống rồi bước tới chỗ Clayton giao hộ chiếu cho anh.
“Không có bằng lái xe à?”
“Tôi không có.”
Clayton xem xét cái tên, môi anh mấp máy “Logan Thibault?”
Gã gật đầu.
“Anh đến từ đâu?”
“Colorado.”
“Xa nhỉ.”
Gã không nói gì.
“Anh có định đi đến đâu không?”
“Tôi đang trên đường đến Arden.”
“Có cái gì ở Arden?”
“Tôi chưa biết. Vẫn chưa đến đó bao giờ.”
Clayton nhau mày trước câu trả lời này. Quá khôn ngoan. Quá... thách thứ. Quá cái gì đó. Dù sao thì, anh không thích gã này. “Chờ ở đây,” anh nói “Anh không phiền nếu tôi kiểm tra chứ?”
“Cứ tự nhiên”
Khi Clayton quay về cái xe, anh liếc nhìn qua vai mình và thấy Thibault lục trong ba lô lấy ra một cái tô nhỏ sau đó đổ đầy nước vào đó. Cứ có vẻ như gã chẳng thèm quan tâm.
Ta sẽ tìm ra thôi. Trong chiếc xe tuần, Clayton báo tên qua radio và đánh vần trước khi bị cắt ngang bởi nhân viên điều phối.
“Là Thibault, giống như là T-bow, chứ không phải Thigh-bolt. Là tiếng Pháp”
“Tại sao tôi phải quan tâm nó phát âm như thế nào?“
“Tôi chỉ nói thế thôi –“
“Margre, cứ kiểm tra dùm tôi, được không?”
“Anh ta trông có giống người Pháp không?”
“Làm quái nào tôi biết được một gã người Pháp trông như thế nào chứ?”
‘Tôi chỉ tò mò thôi. Đừng có hối như thế. Tôi đang hơi bận đây.”
Phải, bận, Clayton nghĩ. Bận ăn bánh ngọt thì có. Marge ngốn ít nhất cả tá cái bánh kem Kispy Kremes mỗi ngày. Cô ta phãi nặng ít nhất 300 pounds.
Từ cửa sổ anh trông thấy gã người lạ ngồi xổm bên cạnh con chó và thầm thì gì đó vào tai nó, khi con chó đang uống nước. Anh lắc đầu. Nói chuyện với con vật. Đồ điên. Làm như là chó có thể hiểu được những mệnh lệnh cơ bản không bằng. Vợ trước của anh cũng từng như thế. Ả đối xử với chó như với con người, đáng lẽ điều này đã là một cảnh báo cho anh tránh xa ả ngay từ đầu.
“Tôi không tìm thấy gì cả,” anh nghe Marge nói. Cô ta nghe có vẻ như đang nhai cái gì đó. “Không có hồ sơ nào cả.”
“Cô chắc chứ?”
“Vâng, chắc chắn. Tôi rành công việc của mình mà.”
Trong khi anh đang nói, gã người lạ thu cái tô về và cất vào trong ba lô, sau đó quảy ba lô lê vai.”
“Có cuộc gọi điện bất thường nào không? Có kẻ lạ mặt đáng nghi nào được trình báo không?”
“Không. Sáng nay khá yên tĩnh. Nhân tiện, anh đang ở đâu thế? Cha anh đang cố tìm anh đấy.”
Cha của Clayton là cảnh sát trưởng của bang.
“Nói với ông ấy chút tôi về.”
‘Ông ấy có vẻ như đang tức giận.”
“Cứ nói với ông ấy tôi đang đi tuần”
Để ông ta biết tôi đang làm việc, ông ta sẽ không thèm hỏi nữa.
“Được rồi”
Tốt hơn rồi đấy.
“Tôi phải đi đây.”
Anh đặt cái bộ đàm về chỗ cũ và ngồi thừ ra đó, cảm thấy một chút thất vọng. Sẽ thú vị lắm khi bắt giữ gã đàn ông này, cùng với cái mái tóc như đàn bà đó và mọi thứ. Nếu là anh em nhà Laundry thì đã xong với anh rồi. Họ là đối tượng bị bắt giữ quen thuộc vào các tối thứ sáu: say xỉn và gây rối, phá hoại trị an, đánh lộn, hầu như luôn tự đánh lẫn nhau. Chỉ trừ khi bị giam cùng nhau, họ mới đánh nhau với kẻ khác.
Anh lần khần cái tay nắm cửa. Và lần này cha lại tức giận về chuyện gì đây? Lão già thật khó tính. Làm cái này. Làm cái kia. Mày đã làm mấy cái giấy tờ này chưa? Tại sao mày đi làm trễ? Mày đã ở đâu? Phân nửa thời gian anh luôn muốn bảo lão già hãy lo cái chuyện quỷ quái của mình đi.Lão già vẫn còn nghĩ lão cai quản mọi thứ ở đây.
Không sao. Anh sẽ tìm ra thôi không sớm thì muộn. Giờ là lúc đuổi gã hippie đi khỏi đây, trước khi các cô gái bước ra. Nơi này đáng ra là nơi riêng tư. Những tên hippie có thể phá hỏng cả khu này.
Clayton ra khỏi xe, đóng cửa lại. Con chó ngẩng đầu theo hướng Clayton đến. Anh giao trả lại hộ chiếu. “Xin lỗi vì sự bất tiện này, ngày Thibault.” Lần này, anh cố tình thay đổi cách phát âm. “Chỉ là làm nhiệm vụ thôi. Trừ khi, dĩ nhiên, anh manh theo ma túy hoặc vũ khí trong ba lô.”
“Tôi không có.”
“Anh có phiền để tôi lục soát không.”
“Không hẳn. Tôi có quyền riêng tư của mình.”
“Tôi thấy cái lều ngủ của anh. Anh đi cắm trại à?”
“Tôi đã ở hạt Burke tối qua.”
Clayton quan sát gã, suy xét câu trả lời.
“Chẳng có chỗ cắm trại nào gần đây cả.”
Gã không nói gì.
Clayton nhìn đi chỗ khác. “Anh nên xích con chó đó lại”
“Tôi không nghĩ có luật xích chó ở hạt này.”
“Không có. Chỉ là vì sự an toàn cho con chó của anh. Nhiều xe hơi đi theo con đường chính.”
“Tôi sẽ ghi nhớ điều đó.”
“Được rồi.” Clayton quay đi rồi khựng lại “Nếu anh không phiền, tôi muốn hỏi, anh đã ở đây bao lâu rồi.”
“Tôi vừa đi bộ đến đây thôi. Tại sao?”
Có gì đó trong câu trả lời của gã làm anh băn khoăn, và anh do dự trước khi tự nhắc mình rằng chẳng thể có cách nào gã lạ mặt này biết được anh đã làm gì. “Không có gì.”
“Tôi đi được chưa?”
“Okay”
Clayton nhìn theo kẻ lạ mặt và con chó đi theo con đường mòn trước khi rẽ theo một lối nhỏ đi vào khu rừng. Khi gã biến mất, Clayton quay trở lại chỗ cũ tìm cái máy ảnh. Anh chọc tay vào trong bụi rậm, đá mấy quả thông, và lùi bước vài lần để chắc chắn mình đang ở đúng chỗ. Cuối cùng, anh quỳ phục xuống, hoảng hốt. Cái máy ảnh là tài sản của cục cảnh sát. Anh chỉ mượn nó cho vài lần đi tuần đặc biệt, và lão già cha anh sẽ tra hỏi nếu như nó mất. Tệ hơn nữa, cái thẻ nhớ đầy hình hình các cô gái lõa thể trong đó. Cha anh lại là một người nguyên tắc và đầy trách nhiệm.
Vài phút trôi qua. Từ xa, anh nghe thấy tiếng động cơ máy nổ. Chắc là mấy cô sinh viên đang bỏ đi, chỉ đến lúc đó anh mới quan tâm đến việc các cô nghĩ gì khi thấy chiếc xe tuần của anh vẫn còn đậu ở đó. Dù sao thì vẫn còn những rắc rối khác quan trọng hơn.
Cái máy ảnh biến mất.
Không phải biến mất mà là bị lấy mất. Cái thứ chết tiệt chẳng đời nào lại tự biết đi. Không thể nào mấy cô ả lại tìm ra nó. Điều này có nghĩa là Thigh-bolt đã chơi anh một vố. Thigh-bolt. Chơi khăm. Chính hắn. Anh đã biết gã hành động quá đáng nghi mà, cái kiểu như Tôi Biết Anh Làm Gì Mùa Hè Trước.
Không đời nào gã thoát được dễ như thế. Không một tên bẩn thỉu, hippi, một thằng điên dắt chó nào được phép xuất hiện trước mặt Keith Clayton nữa. Không đời nào, ít nhất cũng là trong kiếp này.
Anh chen qua mấy cành cây đi về phía con đường, nghĩ rằng mình sẽ bắt kịp Logan Thigh-bolt và dạy cho hắn một bài học. Và đó chỉ là khởi đầu thôi. Đằng sau còn nhiều trò hơn, chắc chắn là thế. Gã chơi khăm anh? Vẫn chưa xong đâu. Không phải là trong thị trấn này. Anh chẳng thèm quan tâm đến con chó. Con chó sẽ tức giận ư? Tạm biệt nhé, chó cưng. Đơn giản thôi. Chó chăn cừu Đức là vũ khí – chẳng có tòa án nào ở đây ủng hộ việc đó.
Đầu tiên đã. Phải tìm Thibault. Lấy cái máy ảnh. Sau đó mới nghĩ ra bước kế tiếp.
Chỉ đến khi đó, lúc đến được chiếc xe tuần, anh nhận ra cả hai bánh trước đều xẹp lép.


“Anh nói tên anh là gì?”
Thibault nhoài người về ghế trước chiếc xe Jeep một vài phút sau, nói chuyện trong tiếng gầm rú của gió. “Logan Thibault”. Anh chỉ ngón tay trỏ qua vai “Còn đây là Zeus”
Zeus đang ở phía sau chiếc xe Jeep, lưỡi thè ra, mũi hỉnh lên theo cơn gió khi chiếc xe Jeep tăng tốc trên xa lộ.
“Con chó đẹp quá. Tôi là Amy. Còn đây là Jennifer và Lori.”
Thibault liếc nhìn ngang vai. “Chào các cô.”
“Này”
Họ có vẻ bị xao lãng. Không ngạc nhiên lắm, Thibault nghĩ, cứ xem xét những gì họ đã trải qua. “Tôi rất cảm ơn vì các cô cho đi nhờ xe.”
“Không có gì đâu. Anh nói anh đến Hampton à?”
“Nếu như nó không xa lắm”
“Nó nằm ngay gần đây.”
Sau khi rời khỏi con đường mòn và giải quyết một số thứ, Thibault quay trở lại con đường vừa kịp lúc các cô gái trờ xe tới. Anh đưa ngón trỏ ra, thầm cảm ơn là Zeus đi cùng mình, và các cô gái ngừng xe ngay lập tức.
Đôi khi mọi thứ cũng diễn ra theo ý muốn.
Mặc dù anh giả vờ không biết, nhưng thực ra sáng đó anh đã trông thấy ba người họ đi vào khu rừng – anh cắm trại ngay rìa bãi biển – nhưng anh không muốn xâm phạm sự riêng tư của các cô gái ngay khi họ bắt đầu cởi đồ. Với anh, thì điều mà họ đang làm rơi vào mục “vô thưởng vô phạt”, mặt khác, họ chỉ có một mình, và anh không có ý định quanh quẩn gần đó để nhìn ngắm. Ai thèm quan tâm họ có cởi đồ hay trần như nhộng hay không chứ? Đó không phải chuyện của anh, và anh định cứ bỏ như thế - cho đến khi anh thấy viên cảnh sát lái xe đến trong chiếc xe tuần của Cục Cảnh Sát Hạt Hampton.
Anh trông rõ viên cảnh sát qua kính chắn gió, và có cái gì đó không ổn với gã này. Khó mà nói được đó là cái gì, một cách chính xác thì anh đã không đắn đo phân tích. Anh quay ngược lại, đi băng ngang qua khu rừng, và đến vừa kịp lúc để phát hiện viên cảnh sát kiểm tra cái máy ảnh trước khi nhẹ nhàng đóng cửa xe tuần. Anh quan sát gã lỉnh về phía bãi đá. Thibault biết gã đang làm nhiệm vụ, nhưng trông gã có cái gì đó giống như Zeus lúc đang háu ăn một miếng thịt bò. Một chút gì quá phấn khích.
Thibault ra hiệu cho Zeus nằm yên, giữ đủ khoảng cách để viên cảnh sát không nghe được anh, và phần còn lại của kế hoạch hoàn toàn tự phát. Anh biết rằng không thể đối diện trực tiếp với gã ta – tên cảnh sát có thể sẽ nói rằng gã đang thu thập chứng cứ và lời nói của hắn chắc chắn là đáng tin hơn lời nói của một người lạ mặt. Tất cả mọi tiếp xúc bên ngoài là vô ích, vì nó có thể gây ra nhiều rắc rối hơn mong đợi, mặc dù anh sẽ thích đi rón rén sau lưng gã. Thật may mắn – hoặc cũng có lẽ là không may cho lắm, dựa vào tình huống này – các cô gái xuất hiện, viên cảnh sát hoảng sợ và Thibault thấy được chỗ giấu chiếc máy ảnh. Một khi gã cảnh sát và cô gái đi về phía các cô còn lại, Thibault có thể thu hồi chiếc máy ảnh. Đáng lẽ mọi thứ nên dừng ở đó, nhưng gã cảnh sát này cần được dạy một bài học. Không phải là một bài học lớn lao gì, chỉ là một bài học nhỏ về sự tôn trọng nhân cách của các cô gái. Thibault đã phá hủy cả một ngày của tên cảnh sát và phá thủng hai bánh xe của gã.
“Ồ, nhắc mới nhớ,” Thibault lên tiếng. “Tôi tìm thấy cái máy ảnh trong rừng”
“Không phải của tôi. Lori-Jen, có cậu nào bị mất máy ảnh không?”
Cả hai cô nàng đều lắc đầu.
“Dù sao cứ giữ nó đi,” Thibault nói, đặt nó lên ghế “Và cảm ơn vì đã cho đi nhờ xe. Tôi đã có một cái rồi.”
“Anh chắc chứ? Nó có vẻ hơi đắt.”
“Hoàn toàn chắc chắn.”
“Cảm ơn anh.”
Thibault để ý đến cái bóng của cô gái, nghĩ rằng cô ta thuộc dạng một cô gái thành phố khá quyến rũ, với những đường nét khiêu gợi, làn da mật ong, và cặp mắt màu nâu nhạt. Anh nghĩ mình có thể ngắm cô ta hàng giờ.
“Này... cuối tuần này anh có làm gì không?” Amy hỏi. “Chúng tôi định đi đến bãi biển.”
“Rất cảm ơn nhưng tôi không thể đi được.”
‘Tôi cá là anh đi gặp bạn gái phải không?”
“Tại sao cô nói thế?”
“Cách mà anh cư xử.”
Anh buộc mình quay đi. “Cũng gần giống như thế.”

__________________
uninthichankem@gmail...<= đóng góp công sức cho dự án ebook

thay đổi nội dung bởi: thichankem, 06-08-2012 lúc 12:40 PM
thichankem vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
123451212 (26-08-2012)
Old 06-08-2012, 12:26 PM   #2
thichankem
Học sinh
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 57
Xin cảm ơn: 942
Được cảm ơn 54 lần trong 36 bài
Exclamation

Chương 2: Thibault
(Người dịch: thebluesky88)

Thật kỳ lạ khi nghĩ về những ngã rẻ bất ngờ trong cuộc đời. Một năm trước, có lẽ Thibault đã chộp ngay lấy cơ hội trải qua kỳ nghỉ cuối tuần với Amy và các bạn cô. Có lẽ đó mới chính là thứ anh cần, nhưng khi họ cho anh xuống ngay rìa thị trấn Hampton giữa cái nóng oi ả chiều tháng Tám, anh lại vẫy tay chào tạm biệt, cảm thấy nhẹ nhõm một cách kỳ lạ. Làm ra vẻ mình hoàn toàn bình thường thật là mệt.
Kể từ khi rời khỏi Colorado 5 tháng trước, anh đã không hề trải qua khoảng thời gian nhiều hơn một tiếng đồng hồ với bất kỳ ai, lần ngoại lệ duy nhất là với một cụ già tại một trang trại bán sữa phía Nam của Little Rock. Ông cụ đã cho phép anh ngủ trong một căn phòng chưa dùng tới ở trên lầu, sau bữa ăn tối mà cả anh và cụ đều chẳng nói với nhau câu nào. Anh trân trọng ông cụ ở việc cụ không hề ép anh phải trả lời cho cách cư xử của mình. Không câu hỏi, không sự tò mò, không một lời bóng gió nào. Chỉ đơn giản chấp nhận sự thật là Thibault không thích trò chuyện. Để cảm ơn cụ, Thibault đã ở vài ngày để giúp sửa lại mái nhà trang trại trước khi quảy ba lô lên vai và khởi hành, với Zeus lững thững theo sau.
Ngoại trừ lần được các cô gái cho đi nhờ xe, phần còn lại anh toàn đi bộ. Sau khi để lại chìa khóa căn hộ tại văn phòng quản đốc vào giữa tháng Tư, anh đã làm hư tám đôi giày, chỉ ăn kẹo PowerBars và uống nước trong suốt những chuyến đi đơn độc giữa các thị trấn, và một lần, tại Tennessee, anh đã xơi nguyên năm chồng bánh kép sau khi đi bộ gần ba ngày đường mà chẳng có gì bỏ bụng. Cùng với Zeus, anh trải qua những trận bão tuyết, mưa đá, những cơn mưa tầm tã và cái nắng kinh khủng đến mức làm da tay anh sưng tấy, anh từng thấy một lốc xoáy chỗ đường chân trời gần Tulsa, Oklahoma, và suýt bị sét đánh hai lần. Đôi khi ngẫu hứng, anh đi vòng, cố tình tránh xa những con đường chính, kéo dài cuộc hành trình của mình. Thông thường, anh cứ đi cho đến khi mệt lả, và đến cuối ngày, mới bắt đầu tìm chỗ cắm trại, bất kỳ chỗ nào mà anh nghĩ là anh và Zeus sẽ không bị làm phiền. Vào buổi sáng, cả hai lại lên đường trước lúc bình minh nên chẳng ai biết. Cho đến lúc này, anh và Zeus vẫn chưa bị ai làm phiền.
Anh cho rằng mình đã đi được trung bình 20 dặm một ngày, mặc dù chưa bao giờ anh thực sự đo đạc thời gian hay quãng đường. Đó không phải là mục đích của chuyến đi này. Anh có thể tưởng tượng rằng vài người sẽ cho là anh ra đi để quên đi những ký ức về một thế giới mà anh đã bỏ lại sau lưng, nghe có vẻ thật nên thơ; người khác có thể muốn tin là anh chỉ đơn giản thích đi bộ trên một quãng đường dài. Nhưng thực sự không phải thế. Anh thích đi bộ và có địa điểm mà anh muốn đến rõ ràng. Chỉ vậy thôi. Anh đi khi anh muốn, nhanh chậm tùy thích, đến bất kỳ đâu. Sau gần bốn năm phải thi hành theo mệnh lệnh trong Hải Quân, chính sự tự do này đã thu hút anh.
Mẹ anh lo lắng về anh, bà mẹ nào cũng như thế. Anh gọi điện về nhà vài ngày một lần để bà biết là anh vẫn ổn, và thường sau khi gác máy, anh lại nghĩ là mình đã không công bằng với bà. Anh đã ra đi gần 5 năm qua, và trước lần đi lính ở Iraq, anh nghe bà thuyết giáo trên điện thoại, bảo anh không được làm điều gì ngu ngốc. Anh không làm gì ngu ngốc cả, nhưng cũng có vài lần anh suýt chết. Mặc dù chưa bao giờ anh kể cho bà nghe về chuyện đó, bà biết cả nhờ đọc báo. “Giờ còn chuyện này nữa,” bà nhớ lại đêm anh ra đi “Tất cả chuyện này thật điên rồ.”
Có lẽ như thế thật. Mà cũng có lẽ không. Anh vẫn còn chưa chắc chắn.
“Mày nghĩ sao hả Zeus?”
Con chó ngẩng đầu lên khi nghe kêu tên và đi nép về phía anh.
“Tao biết rồi, mày đói chứ gì. Còn gì nữa không?”
Thibault dừng lại tại bãi đậu xe của một nhà trọ tồi tàn ngay rìa thị trấn. Anh lấy cái tô và phần còn lại của bữa ăn cho con chó. Khi Zeus bắt đầu ăn, anh nhìn bao quát cả thị trấn.
Hampton không phải là nơi tệ nhất mà anh biết, cho đến giờ thì thế, nhưng nó cũng không phải là nơi tốt nhất. Thị trấn tọa lạc trên bờ sông South, gần 35 dặm về phía Tây Bắc của Wilmington và đường bờ biển, thoạt nhìn nó trông như là tập thể hàng nghìn cộng đồng những người lao động tự túc có lòng tự trong cao và một lịch sử lâu đời gắn bó dọc dòng sông South. Có một vài đèn giao thông treo lủng lẳng trên những sợi dây nhợ loằng ngằng, cắt ngang dòng giao thông đang tiến qua cây cầu bắc ngang dòng sông. Hai bên của con đường là những tòa nhà thấp bằng gạch, chèn ép lẫn nhau và kéo dài cả nửa dặm, với những cái tên kinh doanh được tô trên cửa sổ trước nhà, quảng cáo những địa điểm ăn uống hoặc bán nông cụ. Một vài cây mộc lăn mọc rải rác làm cho vỉa hè phồng lên bởi cái rễ trương phồng của chúng. Từ xa, anh trông thấy một tiệm cắt tóc kiểu cũ, cùng vài cụ già ngồi trên băng ghế đằng trước. Anh mỉm cười. Ở đây thật tĩnh lặng, giống như hình ảnh của những năm 1950.
Nhìn kỹ hơn, anh nhận ra ấn tượng ban đầu của mình hoàn toàn sai lầm. Mặc dù có vị trí nằm gần biển, hoặc cũng có lẽ vì vậy anh phỏng đoán thế - anh nhận thấy những chỗ mục nát trên mái nhà, những đống gạch đổ vụn gần nền nhà, những đống gạch xỉn màu cao hơn nền nhà vài thước, cho thấy hậu quả của một cơn bão dữ dội trong quá khứ. Chưa có cửa hàng nào mở cửa, nhưng nhìn những hàng xe đằng trước, anh tự hỏi không biết họ có thể chờ đến khi nào. Những khu vực kinh danh trong những thị trấn nhỏ luôn hoạt động một cách cổ lỗ sĩ, và nếu nơi này cũng giống như những thị trấn khác mà anh đã từng đi qua, anh cho là có những cơ sở kinh doanh khác mới hơn, giống như Wal-Mart hay Piggly Wiggly sẽ nhanh chóng nắm quyền kiểm soát cả khu vực này.
Mặc dù vậy, thật kỳ lạ. Tại đây. Anh không chắc mình đã tưởng tượng Hampton giống như thế nào, nhưng chắc chắn không phải thế này.
Không sao cả. Khi Zeus ăn xong, anh băn khoăn không biết phải mất bao lâu để tìm được cô ấy. Người đàn bà trong tấm ảnh. Người đàn bà mà anh đã lặn lội để tìm kiếm.
Nhưng anh sẽ tìm ra cô ấy. Chắc chắn là thế. Anh đeo ba lô lên vai. “Sẵn sàng chưa?”
Zeus nghiêng đầu.
“Đi kiếm một căn phòng thôi. Tao muốn ăn và tắm rửa. Mày cũng cần phải tắm rửa.”
Thibault đi được vài bước trước khi nhận ra Zeus vẫn chưa chịu cử động. Anh liếc nhìn qua vai mình.
“Đừng nhìn tao như thế. Mày chắc chắn cần phải tắm rửa. Mày hôi kinh.”
Zeus vẫn không chịu bước đi.
“Ổn thôi. Cứ ở lại đi. Tao đi đây.”
Anh tiến đến chỗ văn phòng quản đốc để thuê phòng, biết rằng Zeus sẽ chạy theo. Cuối cùng thì, Zeus luôn luôn chạy theo.


Cho đến khi tìm thấy bức ảnh, cuộc đời Thibault luôn diễn ra như anh hoạch định. Anh luôn có kế hoạch. Anh từng học thật tốt ở trường, từng muốn tham gia các hoạt động thế thao, và cố gắng chơi giỏi càng nhiều môn càng tốt. Anh từng muốn học cách chơi piano và violin, cho đến khi đủ thành thục để có thể tự mình viết nhạc. Sau khi học xong đại học tại trường Đại Học Colorado, anh dự định gia nhập Hải Quân và người tuyển dụng đã bất ngờ khi anh chọn đăng ký đi lính thay vì trở thành sĩ quan. Bất ngờ, nhưng ấn tượng. Hầu hết những sinh viên tốt nghiệp đại học đều không muốn trở thành lính quèn, nhưng đó lại chính xác là điều anh muốn.

Vụ khủng bố tại Tòa Tháp Đôi chẳng có ảnh hưởng gì đến quyết định của anh. Thay vào đó, việc gia nhập quân đội lại có vẻ như là một việc hoàn toàn tự nhiên, bởi vì cha anh đã phục vụ cho hải quân gần 25 năm. Ông bắt đầu với chức binh nhì và cuối cùng trở thành một trung sĩ đầu hoa râm tính tình cứng rắn. Ông làm cho hầu hết mọi người phải sợ hãi ngoại trừ vợ và trung đội mà ông chỉ huy. Ông đối xử với những cậu thanh niên này như con trai mình, ông hay nói với họ, mục tiêu duy nhất của ông là đem họ về nhà với mẹ của mình một cách bình an vô sự khi họ đã hoàn toàn trưởng thành. Cha của anh đã tham gia hơn 50 tiệc cưới qua nhiều năm lãnh đạo trong quân đội, ai cũng muốn có sự chúc phúc của ông trong ngày trọng đại của mình. Ông cũng là một người lính hải quân giỏi. Đạt được Ngôi Sao Bạc (Broze Star) và Trái Tim Tím (Purple Hearts) tại Việt Nam và suốt thời gian phục vụ quân đội tại Grenada, Panama, Bosnia và Chiến tranh vùng Vịnh. Cha anh là một người lính hải quân không ngại việc chuyển quân, và Thibault trải qua hầu hết quãng thời gian tuổi trẻ của mình di chuyển từ nơi này sang nơi khác, sống trong những căn cứ khắp thế giới. Theo một cách nào đó, Okinawa giống như nhà anh hơn là Colorado, và mặc dù tiếng Nhật của anh chỉ ở mức trung bình, anh cho rằng một tuần nghỉ ngơi tại Tokyo sẽ giúp anh đạt lại sự lưu loát trước đó. Giống như cha mình, cuối cùng anh cũng rời khỏi quân đội, nhưng không giống ông, anh quyết định sống đủ lâu để thưởng thức nó. Cha anh chết vì bệnh tim chỉ 2 năm sau lần cuối cùng ông mắc bộ quân phục lên móc, một cơn nhồi máu cơ tim nghiêm trọng xảy đến hoàn toàn bất ngờ. Mới phút trước ông còn xúc tuyết trên xa lộ, thì phút tiếp theo, ông đã ra đi. Đó là 13 năm trước, lúc đó Thibault chỉ mới 13 tuổi.
Ngày hôm đó cùng đám tang kéo theo sau là một trong những ký ức sinh động nhất mà anh có trước khi gia nhập hải quân. Được nuôi lớn như một người lính đôi khi làm cho mọi thứ trở nên nhạt nhòa, đơn giản bởi vì phải thường xuyên di chuyển. Những người bạn đến rồi đi, quần áo hết được xếp lại vào vali rồi lại dỡ ra, nhà ở thường phải bỏ đi hết những thứ không quan trọng, và hậu quả là, chẳng có gì bền vững. Đó là một khoảng thời gian vất vả, nhưng nó khiến cho một đứa trẻ trở nên mạnh mẽ theo một cách mà người ta hầu như không thể hiểu được. Nó dạy rằng mặc dù sẽ có những con người bị bỏ lại đằng sau, nhưng những gương mặt mới sẽ nhanh chóng thay thế, mọi thứ đều có mặt tốt và mặt xấu. Nó khiến một đứa trẻ trưởng thành nhanh chóng.
Ngay cả những năm đại học cũng nhạt nhòa, nhưng chương sách cuộc đời này lại mang đầy những thông lệ. Học suốt tuần, thi cử, đồ ăn căn tin dở ẹt và hai cô bạn gái, cô này lâu hơn cô kia một năm. Bất kỳ ai vào đại học đều có cùng một câu chuyện như thế, rất ít những kỉ niệm khó quên. Sau cùng, chỉ còn bằng cấp là rõ rệt. Sự thật là anh cảm giác cuộc đời mình chỉ thật sự bắt đầu khi đến đảo Parris để trải qua khóa huấn luyện căn bản. Ngay khi vừa nhảy xuống xe buýt, tiếng hét của viên trung úy đã xuyên qua lỗ tai anh. Chẳng có gì trên đời này giống như một viên trung úy có thề làm cho người ta tin rằng cuộc đời mình thực chỉ thực sự có ý nghĩa cho đến lúc đó. Bây giờ, bạn hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của họ. Giỏi thể thao à? 50 cái hít đất, quý ngài lực lưỡng. Tốt nghiệp đại học à? Ráp khẩu súng này đi, Einstein. Có cha trong hải quân? Đi lau nhà vệ sinh như ông già anh từng làm ấy. Toàn những thứ cũ rích. Chạy, diễu hành, đứng nghiêm, bò trong bùn sình, trèo tường: chả có gì trong khóa huấn luyện này mà anh chưa từng biết trước.
Phải thừa nhận là khóa huấn luyện hầu như mang lại kết quả. Nó khiến người ta nản lòng, đánh gục họ, và cuối cùng đưa họ vào trong hải quân. Hay đó là thứ mà người ta vẫn nói. Anh không hề nản lòng. Anh trải qua tất cả những bài tập thể lực, luôn nhún nhường, thực thi mọi mệnh lệnh, và vẫn là mình như trước đây. Cuối cùng anh cũng trở thành lính hải quân.
Anh thuộc tiểu đoàn Năm, binh đoàn Năm, căn cứ Trại Pendeleton. San Diego đúng kiểu thành phố yêu thích của anh, thời tiết tuyệt vời, những bãi biễn lộng lẫy, và hơn hết là có nhiều đàn bà đẹp. Nhưng anh không ở đây lâu. Tháng giêng 2003, ngay khi vừa tròn 23 tuổi, anh được điều đến Kuwait tham gia chiến dịch Giải Phóng Iraq (Operation Iraqi Freedom). Trại Doha, nằm trong khu công nghiệp của thành phố Kuwait, từng được trưng dụng từ thời chiến tranh vùng Vịnh, đã tự phát triển thành một thị trấn nhỏ. Có phòng tập thể hình và trung tâm tin học, trạm bán hàng, nơi ăn uống, và những cái lều nối tiếp nhau kéo dài đến tận chân trời. Chốn nhộn nhịp này càng trở nên bận rộn hơn khi cuộc xâm chiếm bắt đầu, mọi thứ lộn tùng phèo ngay từ những ngày đầu tiên. Một ngày của anh trở thành những khoảng thời gian cách quãng giữa các buổi họp binh kéo dài hàng giờ liền, những buổi tập luyện cật lực, và những trận giả chiến khi kế hoạch tác chiến thay đổi. Anh phải tập mặc quần áo bảo vệ chống chiến tranh hóa học dễ có cả trăm lần. Đồng thời, người ta cũng lan truyền nhau cả tá tin đồn. Phần tệ nhất là tìm ra xem tin đồn nào có thể là sự thật. Hôm nay nghe đâu địch sắp tiến quân, hôm sau lại nghe đồn rằng chúng đang tháo lui. Ban đầu, có thể chúng sẽ tấn công từ bắc rồi tiến xuống nam, hôm sau lại nghe đâu chúng chỉ tấn công vào phía nam, mà cũng có thể không phải thế. Lại đồn rằng địch sẽ sử dụng vũ khí hóa học, hôm sau lại nghe được chúng sẽ không dùng loại vũ khí đó bởi vì họ sợ rằng quân đội Mỹ sẽ phản chiến bằng vũ khí hạt nhân. Người ta còn đồn rằng những tên lính cộng hòa I-rắc định đánh bom liều chết ở bên đường biên giới, người khác lại cho là họ sẽ đánh vào gần Baghda. Mặc dù vậy cũng có người cho là đánh bom liều chết sẽ xảy ra gần những khu dầu mỏ. Tóm lại là, chẳng có ai biết được thông tin gì, và sự thật này chỉ góp phần làm gia tăng thêm trí tưởng tượng của 150,000 binh lính đóng tại Kuwait.
Đa số những người lính đều còn trẻ. Đôi khi điều này hay bị lãng quên. 18, 19. 20 – một nửa trong số họ còn không đủ tuổi để uống bia. Họ tự tin, được huấn luyện kỹ lưỡng và hăng hái, nhưng không thể phủ nhận được một hiện thực đang chực chờ. Một vài trong số họ sẽ chết. Một vài người nói lên điều đó một cách công khai, người khác viết thư về cho gia đình và giao phó số phận mình cho Chúa. Hầu hết đều dễ mất bình tĩnh. Một vài người còn mắc chứng mất ngủ, một số khác ngủ suốt cả ngày. Thibault quan sát tất cả với một cảm giác gắn kết kỳ lạ. “Chào mừng đến với chiến tranh,” anh có thể nghe thấy tiếng cha mình nói. Nó luôn luôn là một SNAFU: một tình huống bình thường chán chết.
Thibault cũng không thoát khỏi sự căng thẳng đang leo thang này, và như những người khác, anh cần nơi để trút bớt những bực dọc. Không khó để tìm một nơi như thế. Anh bắt đầu chơi bài xì. Cha đã từng dạy anh chơi, và ông ta biết rõ trò chơi này ... hoặc nghĩ là ông ta biết. Anh nhanh chóng nhận ra rằng người ta còn biết nhiều hơn ông. Trong ba tháng đầu tiên, anh bị thua sạch từng đồng mình tiết kiệm được từ hồi nhập ngũ. Không phải là số tiền nhiều nhặn gì cho lắm, thậm chí anh cũng chẳng có nhiều chỗ để tiêu xài, nhưng nó lại khiến tâm trạng anh bực bội. Anh ghét thua cuộc.
Liều thuốc tốt nhất là chạy đường dài vào mổi sáng sớm, trước khi mặt trời mọc. Thời tiết thường lạnh cóng, mặc dù đã ở vùng Trung Đông được hơn một tháng, anh vẫn còn bị sốc bởi cái lạnh lẽo của sa mạc. Anh chạy hết sức dưới bầu trời đong đầy những vì sao, hơi thở của anh thoát ra thành từng làn khói.
Cuối chặng đường chạy, anh có thể trông thấy cái lểu của mình từ đằng xa, và bắt đầu giảm dần tốc độ. Trước đó, mặt trời đã bắt đầu nhô lên khỏi đường chân trời, tỏa ánh sáng dát vàng lên khắp mặt đất khô cằn. Anh chống hai tay lên hông, và thở dốc, từ khóe mắt, anh để ý thấy ánh sáng lóe lên từ một bức ảnh, bị chôn một nửa dưới cát. Anh ngừng lại, nhặt nó lên. Đó là một bức ảnh được ép nhựa một rách rẻ tiền nhưng khá gọn gàng, có lẽ để bảo vệ nó khỏi bị hỏng. Anh phủi sạch bụi, và đó là lần đầu tiên anh nhìn thấy cô.
__________________
uninthichankem@gmail...<= đóng góp công sức cho dự án ebook

thay đổi nội dung bởi: thichankem, 06-08-2012 lúc 12:38 PM
thichankem vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
123451212 (26-08-2012)
Old 06-08-2012, 12:27 PM   #3
thichankem
Học sinh
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 57
Xin cảm ơn: 942
Được cảm ơn 54 lần trong 36 bài
Default

Cô gái ấy tóc vàng, đang nở một nụ cười với đôi mắt tinh nghịch màu hạt dẻ, mặc chiếc quần jeans, và cái áo thun in chữ Lucky Lady (Quý bà may mắn) ở đằng trước. Phía sau cô là một băng rôn mang chữ “Hội chợ Hampton” Một con chó chăn cừu Đức, với cái mũi xám, đứng bên cạnh cô. Trong đám đông phía sau sau là hai người thanh niên trẻ, họ tập trung gần quầy bán vé và có vẻ như hơi lơ đãng. Họ mặc áo thun có in hình logo. Ba cây thường xuân nhô lên từ đằng xa, những cái ngọn nhọn hoắt, loại cây có thể gặp ở bất kỳ đâu. Phía sau bức ành là hàng chữ viết tay “Bảo trọng nhé, E”
Lúc đó anh không để ý mấy đến những thứ thế này. Theo bản năng, anh đã định vứt nó đi. Anh hầu như đã làm như thế, nhưng khi đó bất chợt anh nghĩ rằng người nào đánh mất nó có thể sẽ muốn tìm lại. Nó rõ ràng là mang một ý nghĩa đặc biệt với ai đó.
Khi trở về trại, anh đính bức ảnh lên trên tường thông tin gần cửa ra vào trung tâm tin học, vì cho rằng khá nhiều cư dân của khu trại này đi ngang qua đó. Chắc chắn sẽ có ai đó nhận lại nó.
Một tuần trôi qua, rồi mười ngày sau. Bức ảnh vẫn còn ở nguyên đó. Lúc đó, trung đội của anh phải tập luyện hàng giờ luyện mỗi ngày, và những ván bài xì phé ngày càng căng thẳng. Một vài gã đã thua đến cả nghìn đô la, người ta còn đồn rằng một tay chơi tự do nào đó còn thua đến 10 nghìn đô la. Thibault, sau lần thua đáng xầu hổ lúc đầu, quyết định sẽ dành thời giờ rảnh để suy xét về cuộc chiến và nghĩ xem mình sẽ phản ứng thế nào khi bị bắn. Khi đi lang thang qua khu trung tâm tin học ba ngày trước cuộc chiến, anh trông thây bức ảnh vẫn còn đính trên bảng, và vì một lý do nào đó mà chính anh cũng không hiểu được, anh lấy bức ảnh xuống và nhét vào trong túi.
Victor, thằng bạn thân nhất của anh trong đơn vị - họ quen nhau từ đợt huấn luyện căn bản – đã thuyết phục anh chơi vài ván bài xì vào tối hôm đó, mặc dù Thibault tỏ ra khá dè dặt. Không có nhiều tiền, Thibault chơi một cách thận trọng và không nghĩ là mình sẽ chơi nhiều hơn nửa tiếng đồng hồ. Và trước lúc bình minh, anh đã thắng được một số tiền nhiều hơn cả khoảng lương sáu tháng của anh trong hải quân.
Chỉ đến khi rời cuộc chơi với Victor, anh mới nhận ra mình đã giữ bức ảnh trong túi từ nãy đến giờ. Khi trở về lều, anh cho Victor xem bức ảnh và chỉ cho cậu ta thấy dòng chữ trên áo người phụ nữ. Cha mẹ của Victor vốn là dân nhập cư bất hợp pháp sống gần Bakersfield, California. Cậu ta không chỉ sùng đạo mà còn tin và điềm báo. Bão sấm, ngã rẽ hình chữ Y, và mèo đen là những điềm báo ưa thích của cậu ta, và trước khi họ được đưa đến đây, cậu ta đã kể cho Thibault nghe về ông chú sở hữu đôi mắt của quỷ: “Khi ông ấy nhìn cậu theo một cách nào đó, chẳng chóng thì chầy, cậu sẽ chết.” Lời kết án này của Victor làm cho Thibault cảm giác như trở lại hồi mười tuổi, lắng nghe một cách chăm chú khi Victor kể chuyện với cái đèn pin kê dưới cằm. Lần này, cậu ta không nói gì. Ai cũng có điểm yếu mà người khác hay châm biếm. Người thanh niên này tin vào điềm gở. Ổn cả thôi. Quan trọng hơn là Victor đủ thành thạo để được huấn luyện thành một tay bắn tỉa và Thibault tin vào anh ta với cả mạng sống của mình.
Victor nhìn chằm chằm bức ảnh trước khi trả lại. “Cậu nói là nhìn thấy bức ảnh lúc bình minh?”
“Ừ”
“Bình minh là thời khắc đầy năng lượng nhất trong ngày.”
“À giờ mới biết.”
“Nó là một dấu hiệu,” cậu ta nói, “Cô ấy là bùa may mắn của cậu. Có nhìn thấy cái áo thun mà cô ấy mặc không?”
“Chỉ là trùng hợp thôi.”
“Không phải trùng hợp đâu. Cậu tìm thấy bức ảnh là có nguyên do. Không ai nhận lại nó cũng là có nguyên do. Hôm nay cậu lấy nó lại cũng là có nguyên do. Định mệnh sắp đặt cậu phải giữ nó”
Thibault muốn nói gì đó về gã đàn ông, người đã làm mất tấm ảnh và cảm giác của anh như thế nào. Nhưng anh giữ im lặng. Thay vào đó anh ngả người trên võng, hai tay đặt sau đầu.
Victor cũng bắt chước làm theo. “Mình mừng cho cậu. Thần may mắn từ bây giờ sẽ luôn bên cậu”, cậu ta nói tiếp.
“Mình hi vọng là vậy.”
“Nhưng cậu không bao giờ được làm mất bức ảnh.”
“Tại sao?”
“Nếu cậu làm mất, bùa chú sẽ có tác dụng ngược”
“Có nghĩa là gì?”
“Có nghĩa là cậu sẽ gặp xui xẻo. Trong chiến tranh, cậu sẽ chẳng bao giờ muốn gặp xui xẻo đâu.”
Nhà trọ tồi tàn cả bên trong lẩn phía ngoài: khung nhà bằng gỗ, đèn được treo trên trần nhà bằng dây xích, thảm lót sàn bằng vải thô, cái tivi được gắn dính vào tủ đứng. Nó trông như được trang hoàng từ những năm 1975 và giữ nguyên như thế từ đó đến nay. Căn phòng gợi cho Thibault nhớ lại những nơi mà cha anh đã đưa cả gia đình đến ở khi trải qua kỳ nghỉ trong chuyến hành trình về phía Tây Nam, lúc anh còn bé. Họ ở qua đêm ở những nơi dọc đường quốc lộ, và miễn là căn phòng sạch sẽ thì với ông vậy cũng đã tốt lắm rồi. Mẹ của anh thì không nghĩ thế, nhưng bà có thể làm được gì? Làm gì có khách sạn nào sang trọng kiểu như Four Seasons dọc đường, mà nếu có thì họ cũng không đủ tiền để thuê trọ.
Thibault có cùng những thói quen giống cha của anh khi bước vào một căn phòng trọ. Anh kéo chăn trải giường để chắc chắn là nó sạch sẽ, kiểm tra cái màn tắm để bảo đảm nó không bị mốc, tìm kiếm tóc trong chậu rửa. Ngoại trừ một vài vết gỉ sét, một vòi nước bị rỉ, và vài vết cháy xém do thuốc lá, nơi này sạch sẽ hơn anh nghĩ. Cũng rẻ nữa. Thibault đã trả tiền mặt trước một tuần, không ai hỏi gì, không có khoản phụ thêm nào cho con chó. Thật là hời. Tốt. Thibault không có thẻ tín dụng, không ngân phiếu, không thẻ ATM, không địa chỉ gửi thư chính thức nào, không điện thoại di động. Anh mang theo hầu như toàn bộ tài sản của mình. Nhưng anh có một tài khoản ngân hàng, để rút tiền khi cần. Nó được đăng ký dưới cái tên của một công ty, không phải tên anh. Anh không hề giàu có. Cũng chẳng phải là dân trung lưu. Cái công ty đó chẳng kinh doanh gì cả. Anh chỉ yêu thích sự riêng tư của mình.
Anh đưa Zeus vào bồn tắm và tắm rửa cho nó, chà xà bông gội đầu lên lưng nó. Sau cùng, anh tắm rửa và mặc bộ đồ sạch cuối cùng của mình. Ngồi trên giường, anh lật nhanh qua quyển danh bạ, tìm kiếm một nơi cụ thể, một cách vô vọng. Anh ghi chú lại rằng mình sẽ đi giặt ủi khi có thời gian, sau đó quyết định đi ăn tại một nhà hàng nhỏ anh vừa thấy ở cuối con đường.
Khi đến đó, họ không cho phép Zeus vào bên trong, cũng chẳng mấy ngạc nhiên. Zeus nằm xuống ngoài cổng trước và ngủ thiếp đi. Thibault dùng chesseburger và khoai tây chiên, sau đó cố nuốt trôi nó với một cốc sữa sôcôla và gọi một cái cheeseburger cho Zeus. Khi trở ra ngoài, Zeus nhai ngấu nghiến cái bánh trong vòng chưa đến 20 giây và ngẩng đầu lên nhìn Thibault lần nữa,
‘Mừng là mày thích món này. Đi nào.”
Thibault mua một cái bản đồ thị trấn tại một cửa hàng tiện lợi và ngồi trên băng ghế gần quảng trường – một trong những công viên kiểu cũ bị bao vây bốn phía bởi những con đường đầy các cơ sở kinh doanh. Dưới những bóng cây là sân chơi cho lũ trẻ, và rất nhiều hoa, nhưng có vẻ như không đông lắm. Một vài bà mẹ đang tụ họp với nhau, trong khi lũ trẻ trượt xuống chiếc cầu tuột, hay đung đưa qua lại trên mấy chiếc xích đu. Anh quan sát gương mặt của những người phụ nữ, bảo đảm rằng cô gái ấy không phải là một trong số họ, sau đó quay đi, mở cái bản đồ ra trước khi họ bắt đầu bồn chồn bởi sự xuất hiện của anh. Những bà mẹ cùng với con nhỏ luôn lo lắng khi trông thấy những người đàn ông độc thân đi lang thang trong khu vực mà không làm gì có chủ đích. Anh không trách họ. Thời này có quá nhiều tên biến thái.
Xem kỹ tấm bản đồ, anh tự định hướng và cố tìm hướng đi kế tiếp. Anh không hề có ảo tưởng rằng nó sẽ dễ dàng. Dù gì thì anh cũng không biết gì nhiều. Tất cả những gì anh có chỉ là một tấm ảnh – không tên, không địa chỉ. Không dữ liệu nào về nghề nghiệp. Không số điện thoại. Không ngày tháng. Không gì cả, ngoại trừ một khuôn mặt giữa biển người.
Nhưng có một vài manh mối. Anh xem kỹ lại bức ảnh, cũng như rất nhiều lần trước đây, và cố bắt đầu với những thông tin mà anh biết. Bức ảnh được chụp tại Hampton. Người phụ nữ ở vào độ tuổi khoảng 20 khi chụp bức ảnh này. Cô ấy khá hấp dẫn. Cô ta có một con chó thuộc giống chăn cừu Đức và chắc chắn là có quen với ai đó cũng nuôi giống chó này. Tên cô ta bắt đầu bằng chữ cái E. Emma, Elaine, Elise, Eileen, Ellen, Erin, Erica... những cái tên này có nhiều khả năng nhất, mặc dù ở miền Nam, anh nghĩ là những cái tên như Erdine hay Elspeth cũng phổ biến. Cô ta đi hội chợ cùng với một người mà sau này đi lính tại Iraq. Cô ấy đã tặng cho người đó bức ảnh, và Thibault tìm thấy bức ảnh vào tháng Hai 2003, có nghĩa là nó phải được chụp trước đó. Vậy thì cô gái phải vào độ tuổi 28-29. Có một dãy ba cây thường xuân ở đằng xa trong bức ảnh. Những thứ này là toàn bộ thông tin mà anh có. Những sự thật.
Sau đó, đến những giả thuyết, bắt đầu với Hampton. Hampton là một cái tên khá quen thuộc. Một lệnh tìm kiếm nhanh trên Internet có thể tìm ra nhiều kết quả. Quận hạt và thị trấn: South Carolina, Virginia, New Hampshire, Iowa, Nebraska. Georgia. Những nơi khác cũng có thể đúng. Rất nhiều nơi. Và dĩ nhiên, một Hampton tại hạt Hampton, bang North Carolina.
Mặc dù chẳng có khung cảnh nào đặc biệt ở nền của bức ảnh – không có hình ảnh của Monticello gợi liên tưởng đến Virginia chẳng hạn, hay là biển hiệu Chào đón đến Iowa! từ đằng xa – chẳng có thông tin nào. Không phải từ người phụ nữ, mà từ những người đàn ông ở phía sau, đứng xếp hàng chờ mua vé. Hai trong số họ mặc áo thun có in hình logo. Một là hình ảnh Homer Simpson, chả giúp ích được gì. Người còn lại, có từ Davidson in dọc ngang phía trước, thoạt nhìn lúc đầu tưởng là không có nghĩa gì, thậm chí khi đã suy nghĩ kỹ. Thibault cho rằng chữ trên cái áo là viết tắt của Harley-Davidson, một hãng sản xuất xe gắn máy. Một lệnh tìm kiếm trên Google giúp làm sáng tỏ nghi ngờ này. Davidson, là tên của một trường đại học danh tiếng gần Charlotte, bang North Carolina. Gắt gao, khó nhằn, với chuyên môn chính là nghệ thuật tự do. Một bài phê bình trong catalog ở hiệu sách trường đại học cho thấy cùng một kiểu áo như vậy.
Anh nhận ra rằng, cái áo không phải là một đảm bảo chắc chắn cho việc bức ảnh được chụp tại North Carolina. Có lẽ một người nào đó thuộc trường đại học đã tặng cho gã đàn ông này cái áo, hoặc gã cũng có thể là một sinh viên ngành nghệ thuật, hoặc cũng có thể chỉ đơn giản là anh ta thích màu áo, hoặc có thể là anh ta là sinh viên vừa tốt nghiệp và vừa chuyển đến một nơi nào đó. Nhưng chẳng còn manh mối nào nữa, Thibault đành gọi điện cho Văn phòng thương mại Hampton trước khi rời đi từ Colorado và biết chắc là họ có một phiên hội chợ vào mỗi mùa hè. Một dấu hiệu tốt. Một nơi đến, nhưng vẫn chưa chắc chắn lắm. Anh chỉ cho rằng nó có thể là địa điểm chính xác. Dù vậy, vì một nguyên do kỳ quặc nào đó, nơi này lại có vẻ như chính là chỗ đó.
Anh còn có những giả định khác, nhưng phải nghĩ đến chúng sau thôi. Việc đầu tiên phải làm là đi tìm cái chỗ họp hội chợ. Hi vọng là hội chợ của bang được tổ chức tại cùng một nơi mỗi năm, anh hi vọng là có người sẽ chỉ cho anh hướng đi chính xác cũng có thể trả lởi câu hỏi đó. Chỗ tốt nhất để tìm một người như thế là tại những cửa hàng quanh đây. Không phải là những cửa hàng lưu niệm hay tiệm đồ cổ - chủ của những chỗ này thường là người mới đến thị trấn, những người trốn thoát khỏi phương Bắc để tìm kiếm một cuộc sống yên tĩnh và thời tiết ấm áp dễ chịu hơn. Mặc dù vậy, anh tin là mình sẽ tìm được tại một cửa hàng bán nông cụ. Hay quán rượu. Hay một văn phòng nhà đất. Anh cho là mình sẽ biết được nơi đó ngay khi nhìn thầy nó.
Anh muốn nhìn thấy nơi chính xác bức ảnh đó được chụp. Không phải để có một cảm nhận tốt hơn về người phụ nữ trong tấm ảnh. Cái hội chợ sẽ không giúp ích được gì trong chuyện đó.
Anh muốn biết liệu có phải là có ba cây thường xuân chụm vào nhau. mũi cây nhọn hoắt, loại cây mà có thể mọc ở bất kỳ đâu.
__________________
uninthichankem@gmail...<= đóng góp công sức cho dự án ebook
thichankem vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
123451212 (26-08-2012)
Old 06-08-2012, 12:36 PM   #4
thichankem
Học sinh
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 57
Xin cảm ơn: 942
Được cảm ơn 54 lần trong 36 bài
Default

Chương 3: Beth
(Người dịch: Truong Thuy Trang)

Beth để lon coca dành cho người ăn kiêng của cô sang bên, thấy mừng vì Ben đã có khoảng thời gian vui vẻ ở bữa tiệc sinh nhật của cậu bạn Zach. Khi Melody ghé qua, Beth đang ước rằng Ben sẽ không phải đến nhà bố cậu, và ngồi xuống chiếc ghế cạnh Melody.

“Ý hay đấy nhỉ? Các khẩu súng nước đúng là ý tưởng tuyệt vời.” Melody cười, hàm răng được tẩy trắng của cô hơi trắng quá, còn làn da của cô lại hơi tối quá, cứ như thể cô vừa mới trở về từ một salon nhuộm da rám nắng. Có thể là thế thật. Melody luôn kiêu ngạo về ngoại hình của mình từ khi còn học trung học, và sau này nó thậm chí còn gần như nỗi ám ảnh.

“Chúng ta hãy hi vọng rằng chúng sẽ không lôi cái đám Super Soaker[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ] kia đến đây.”

“Tốt hơn là nên vậy.” Melody nhăn mặt. “Mình bảo Zach rằng nếu nó làm vậy, mình sẽ tống tất cả về nhà.” Cô dựa vào ghế để thoải mái hơn. “Hè này cậu đã làm gì thế? Mình chẳng nhìn thấy cậu, và cậu cũng chẳng cả trả lời điện thoại của mình nữa.”

“Mình biết. Mình xin lỗi về chuyện đó. Hè này mình ở ẩn. Thật khó để theo kịp Nana và lũ chó và tất cả vụ huấn luyện này. Mình chẳng hiểu nổi sao Nana có thể duy trì quá lâu như vậy.”

“Dạo này Nana khỏe chứ?”

Nana là bà của Beth. Bà đã nuôi dưỡng Beth từ khi cô mới ba tuổi, sau khi cha mẹ Beth qua đời trong một tai nạn xe cộ. Cô gật đầu. “Bà đã khỏe hơn rồi, nhưng cơn đột quỵ lại khiến bà yếu đi nhiều. Thân bên trái của bà vẫn rất yếu. Bà có thể lo liệu được phần nào vụ huấn luyện, nhưng duy trì cả đàn chó và công việc huấn luyện thì quá sức của bà. Và cậu biết bà luôn tự bắt bản thân phải cố gắng thế nào đấy. Mình luôn lo bà sẽ bị quá sức.”

“Mình thấy tuần này bà đã quay lại dàn hợp xướng.”

Nana đã tham gia dàn hợp xướng Nhà thờ First Baptist được hơn ba mươi năm, và Beth biết đó là một trong những niềm đam mê của bà. “Tuần trước là tuần đầu bà trở lại dàn hợp xướng, nhưng mình không chắc bà thực sự hát được mấy phần. Sau đó, bà đã phải nghỉ ngơi hai tiếng.”

Melody gật đầu. “Vậy chuyện gì sẽ xảy ra khi trường huấn luyện bắt đầu?”

“Mình không biết.”

“Cậu sẽ dạy phải không?”

“Mình hi vọng thế.”

“Cậu hi vọng? Không phải tuần tới cậu có buổi họp giáo viên sao?”

Beth không muốn nghĩ về chuyện đó, cô muốn bỏ qua nó, nhưng cô biết Melody nói đúng. “Phải, nhưng không có nghĩa là mình sẽ ở đó. Mình biết điều đó sẽ khiến trường gặp rắc rối, nhưng không có nghĩa là mình có thể để Nana một mình cả ngày. Dù thế nào thì cũng chưa phải vậy. Và ai sẽ giúp bà điều hành trường? Bà không thể nào huấn luyện lũ chó cả ngày được.”

“Cậu không thể thuê ai đó à?” Melody gợi ý.

“Mình đang cố. Mình đã kể cho cậu chuyện gì vừa xảy ra hè này chưa nhỉ? Mình đã thuê một gã chỉ xuất hiện hai lần, rồi bỏ việc ngay cuối tuần đầu tiên. Gã thứ hai cũng tương tự như vậy. Sau đó, không ai thậm chí còn muốn đến đây nữa. Mẩu thông báo “Cần người” được cố định luôn trên cửa sổ.”

“David luôn phàn nàn về việc thiếu nhân viên giỏi.”

“Bảo anh ấy đưa ra mức lương thấp nhất. Rồi sau đó mới đúng là phàn nàn. Ngay cả mấy đứa trẻ cấp ba cũng chẳng muốn dọn chuồng nữa. Chúng nói đó là cọ.”

“Là cỏ.”

Beth cười. “Phải, là vậy,” cô thừa nhận. “Nhưng mình hết thời gian rồi. Mình nghi ngờ liệu trước tuần tới có biến chuyển gì không, nếu không mọi sự sẽ tệ hơn. Mình thật sự thích huấn luyện lũ chó. Chúng còn dễ chịu hơn dạy bọn học sinh.”

“Giống học sinh của mình á?”

“Học sinh của cậu còn dễ dàng chán. Tin mình đi.”

Melody đi về phía Ben. “Nó đã lớn hơn kể từ lần trước mình gặp nó.”

“Gần cả inch đấy,” cô nói, và nghĩ rằng Melody thật tốt khi chú ý đến điều đó. Ben luôn nhỏ con hơn so với độ tuổi của cậu, và phải đứng ở bên trái, hàng thứ nhất trong bức ảnh lưu niệm của lớp, thấp hơn nửa cái đầu so với đứa trẻ ngồi cạnh cậu. Zach, con trai của Melody, thì lại ngược lại: đứng phía bên phải, phía sau, luôn là đứa trẻ cao nhất lớp.

“Mình nghe nói mùa thu này Ben không chơi đá bóng nữa,” Melody nhận xét. “Nó muốn thử một môn nào khác.”

“Như là gì?”

“Nó muốn học chơi vi-ô-lông và sẽ học với cô Hastings.”

“Cô ấy vẫn dạy sao? Cô ấy ít nhất cũng phải chín mươi tuổi rồi ấy.”

“Nhưng cô ấy đủ kiên nhẫn để dạy người mới bắt đầu. Hoặc ít nhất đó là những gì cô ấy nói với mình. Và Ben thì rất thích cô ấy. Đó mới là vấn đề.”

“Thế thì tốt,” Melody nói. “Mình cá là nó sẽ chơi rất giỏi. Nhưng Zach sẽ bị qua mặt đấy.”

“Chúng sẽ không cùng đội đâu. Zach sẽ chơi cho nhóm được chọn, đúng không?”

“Nếu nó được chọn đã.”

“Nó sẽ được chọn thôi mà.”

Và đúng vậy. Zach là một trong những đứa trẻ tự tin bẩm sinh, có khả năng cạnh tranh, lớn trước tuổi và nổi trội hơn những đứa trẻ khác, nhưng lại ít tài năng trên các sân bóng. Giống Ben. Ngay cả bây giờ, khi cầm khẩu súng nước Super Soaker chạy chơi trên sân, Ben cũng không thể đuổi kịp Zach. Mặc dù tốt bụng và dễ thương, nhưng Ben không có tố chất của một vận động viên, sự thật đó luôn làm chồng cũ của cô tức giận. Năm ngoái, anh ta đã phải đứng bên lề các trận bóng đá với gương mặt nhăn nhó, đó là một lý do nữa khiến Ben không muốn chơi bóng.

“David sẽ giúp việc huấn luyện nữa chứ?”

David là chồng của Melody và là một trong hai bác sĩ nhi trong thị trấn. “Anh ấy vẫn chưa quyết định. Từ khi Hoskins rời đi, anh ấy phải trực nội trú nhiều hơn. Anh ấy ghét việc đó, nhưng biết làm sao được? Họ vẫn đang cố tuyển thêm một bác sĩ nữa, nhưng thật khó. Không phải ai cũng muốn làm việc ở một thị trấn nhỏ, đặc biệt là khi bệnh viện gần nhất ở Wilmington lại cách đấy bốn mươi lăm dặm. Ngày trở nên dài hơn nhiều. Nửa số ngày anh ấy không thể về nhà trước tám giờ. Thỉnh thoảng còn muộn hơn thế.”

Beth nghe thấy sự lo lắng trong giọng nói của Melody, và cô nhận thấy bạn mình đang nghĩ về vụ lùm xùm mà David đã thú nhận vào mùa đông năm trước. Beth đủ khôn ngoan để không bình luận gì về chuyện đó. Cô đã quyết định ngay rằng họ sẽ chỉ nói về nó một khi Melody muốn. Còn nếu không? Cũng chẳng sao. Đó không phải là việc của cô.

“Vậy còn cậu thì sao? Cậu có đang gặp gỡ người nào không?”

Beth nhăn mặt. “Không, kể từ sau Adam.”

“Có chuyện gì vậy?”

“Mình cũng không biết.”

Melody lắc đầu. “Mình không thể nói rằng mình ghen tị với cậu. Mình chưa bao giờ thích hẹn hò.”

“Ừ, nhưng ít nhất cậu cũng giỏi trong việc đó. Còn mình thì thật khủng khiếp.”

“Cậu lại đang cường điệu rồi.”

“Không phải. Nhưng đó không phải chuyện gì to tát. Mình không chắc là mình có còn đủ năng lượng mà hẹn hò không nữa. Đi dép tông, cạo lông chân, tán tỉnh, giả vờ hòa hợp với các bạn của anh ta. Tất cả những việc đó dường như đều cần nhiều nỗ lực.”

Melody nhăn mũi. “Cậu không cạo lông chân à?”

“Dĩ nhiên mình có,” cô nói, rồi hạ thấp giọng, “dù sao thì cũng gần như luôn luôn.” Cô ngồi thẳng lên. “Nhưng cái chính là, hẹn hò là một việc khó khăn, đặc biệt là với người ở tuổi mình.”

“Thôi, xin cậu. Cậu thậm chí còn chưa đến ba mươi, và cậu quyến rũ.” Beth đã nghe điều đó không biết bao nhiêu lần, và cô cũng chẳng lảng tránh được sự thật rằng đàn ông – kể cả đàn ông đã kết hôn – thường nghển cổ cò ngóng mỗi khi cô đi ngang qua. Trong ba năm đầu dạy học của mình, cô chỉ có duy nhất một buổi họp với phụ huynh một ông bố. Còn trong các trường hợp khác, thì luôn luôn là các bà mẹ tham gia họp. Cô nhớ rằng mình đã hỏi Nana về việc đó vài năm trước, và Nana bảo rằng, “Họ không muốn cháu ở một mình với chồng họ vì cháu xinh đẹp như một quả bí ngô ngộ nghĩnh vậy.” Nana luôn có một cách độc đáo để nói về mọi việc. “Cậu quên mất là chúng ta đang sống ở đâu rồi,” Beth nói. “Không còn mấy anh chàng độc thân ở tuổi mình nữa đâu. Và nếu họ còn độc thân, thì chắc phải có nguyên do nào đó.”

“Không phải vậy.”

“Có thể ở một thành phố thì có. Nhưng ở đây à? Trong thị trấn này á? Tin mình đi. Mình đã sống ở đây cả đời rồi, và kể cả khi còn học trung học, mình học từ nhà. Chỉ trong các dịp đặc biệt cần phải ra ngoài, thì bọn mình sẽ hẹn hò hai hoặc ba buổi và rồi sau đó thì họ ngừng gọi mình. Đừng hỏi mình tại sao.” Cô vẫy tay một cách thản nhiên. “Nhưng cũng chẳng sao. Mình đã có Ben và Nana. Đâu phải là mình sống một mình với cả tá mèo xung quanh.”

“Phải, và cậu có lũ chó.”

“Không phải chó của mình. Đó là chó của người khác. Khác đấy.”

“Ừ đúng,” Melody khịt mũi. “Sự khác biệt to lớn.”

Trên sân, Ben vẫn đang cầm khẩu súng nước Super Soaker của mình bám theo nhóm bạn, cố hết sức để đuổi kịp, nhưng cậu bỗng bị trượt chân và ngã. Kính của cậu rơi xuống cỏ. Beth đủ hiểu cậu để không đứng dậy nhìn xem Ben có làm sao không: lần trước khi cô cố giúp, cậu bé đã có vẻ ngượng ngùng. Cậu ngã mấy lần trước khi tìm thấy cặp kính và rồi lại đứng lên chạy tiếp.

“Chúng lớn nhanh quá nhỉ?” Melody nói, cắt ngang dòng suy nghĩ của Beth. “Mình biết nói thế thật sáo rỗng, nhưng thật sự là vậy. Mình nhớ mẹ mình đã nói chúng sẽ vậy và nghĩ rằng bà không biết bà đang nói về điều gì. Mình mong mỏi Zach lớn lên từng ngày. Dĩ nhiên, khi đó thằng bé bị đau bụng và mình đã không được ngủ nhiều hơn hai giờ một đêm trong suốt một tháng. Nhưng giờ thì thế đấy, chúng sẽ học đến trung học lúc nào chẳng hay.”

“Chưa đâu. Chúng vẫn còn một năm nữa cơ mà.”

“Mình biết. Nhưng điều đó vẫn khiến mình lo.”

“Tại sao?”

“Cậu biết đấy…đó là thời kỳ khó khăn. Lũ trẻ ở tuổi đó sẽ bắt đầu tìm hiểu về thế giới người lớn mà không cần một người trưởng thành giúp giải quyết mọi vấn đề xảy ra với chúng. Thêm vào đó là các cám dỗ, và sự thật là chúng sẽ không nghe lời cậu nữa, và cảm xúc của vị thành niên, và mình sẽ là người đầu tiên thừa nhận rằng mình không mong chờ thời kỳ đó. Cậu là một giáo viên, cậu hẳn là biết.”

“Đó là lý do mình dạy lớp hai đấy.”

“Lựa chọn tốt đấy.” Melody trở nên im lặng. “Cậu có nghe nói về Elliot Spencer chưa?”

“Mình chưa nghe nhiều lắm. Mình ở ẩn mà, cậu nhớ chứ?”

“Thằng nhóc bị bắt quả tang bán thuốc phiện.”

“Nó chỉ hơn Ben có vài tuổi thôi!”

“Và vẫn đang học cấp hai.”

“Giờ cậu làm mình lo lắng rồi đấy.”

Melody đảo mắt. “Đừng vậy. Nếu con trai mình chỉ được một phần của Ben, thì mình sẽ chẳng việc gì phải lo lắng. Ben có chín chắn. Nó luôn lịch sự, tử tế, luôn là người đầu tiên giúp đỡ những đứa trẻ nhỏ hơn. Thằng bé biết cảm thong. Mình trái lại, rất lo cho Zach.”

“Zach cũng là đứa trẻ rất tuyệt mà.”

“Mình biết. Nhưng nó luôn khó bảo hơn Ben. Và nó luôn dễ chạy theo người khác hơn Ben.”

“Cậu có nhìn chúng chơi nãy giờ không? Từ chỗ mình ngồi thì thấy Ben luôn là đứa phải chạy theo đấy chứ.”

“Cậu biết mình muốn nói gì mà.”

[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ] Tên một loại súng nước dành cho trẻ em.
__________________
uninthichankem@gmail...<= đóng góp công sức cho dự án ebook
thichankem vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
123451212 (26-08-2012)
Old 06-08-2012, 12:39 PM   #5
thichankem
Học sinh
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 57
Xin cảm ơn: 942
Được cảm ơn 54 lần trong 36 bài
Default

Thực ra cô biết. Ngay từ khi còn nhỏ, Ben đã hài lòng với việc đi theo con đường riêng của mình. Thật tốt, cô phải thừa nhận, vì đó là một con đường tốt. Mặc dù cậu không có nhiều bạn, cậu vẫn có nhiều thú vui của riêng mình. Đó cũng là những thú vui lành mạnh. Cậu hầu như không thích chơi game hay lướt web, và mặc dù hiếm khi xem ti vi, nhưng cậu cũng thường tự tắt ti vi chỉ sau ba mươi phút hoặc đại loại thế. Thay vào đó, cậu đọc sách hoặc chơi cờ (một trò chơi mà cậu dường như đã thạo đến tầm trực giác) trên bảng trò chơi điện tử mà cậu đã nhận được hồi Giáng sinh. Cậu yêu thích đọc sách và viết lách, và mặc dù rất thích lũ chó ở trường, nhưng hầu hết chúng đều rất bồn chồn do thời gian dài bị nhốt và đều muốn lờ cậu đi. Ben dành nhiều buổi chiều để ném những quả bóng tennis đi, nhưng rất ít quả được những con chó mang về.

“Rồi sẽ ổn thôi.”

“Mình hi vọng thế.” Melody đặt lon nước của mình xuống. “Mình nghĩ là mình nên đi lấy bánh thôi nhỉ? Zach phải luyện tập lúc năm giờ.”

“Sẽ nóng đấy.”

Melody đứng lên. “Mình chắc là thằng bé muốn mang theo Super Soaker. Chắc là để phun nước ra ghế đây.”

“Cậu có cần mình giúp không?”

“Không, cảm ơn cậu. Cậu cứ ngồi đây nghỉ ngơi đi. Mình sẽ quay lại ngay.”

Beth nhìn Melody rời đi, lần đầu nhận ra cô ấy đã gầy đến thế nào. Cô ấy đã nhẹ hơn mười, cũng có thể là mười lăm pound so với lần gần đây nhất họ gặp nhau. Chắc cô ấy đã stress lắm, cô nghĩ. Chuyện của David đã làm cô ấy ngã quỵ, nhưng không như Beth, Melody kiên quyết cứu lấy cuộc hôn nhân của mình. Một lần nữa, họ lại có những cuộc hôn nhân khác nhau. David đã phạm phải sai lầm lớn và làm tổn thương Melody, nhưng nhìn chung, họ luôn cho Beth ấn tượng rằng họ là một cặp hạnh phúc. Cuộc hôn nhân của Beth, trái lại, lại là một sự thất bại ngay từ đầu. Như Nana đã dự đoán. Nana có khả năng đánh giá con người ngay từ lần đầu gặp, và bà thường nhún vai kiểu đó khi không thích một ai đó. Khi Beth tuyên bố có thai và thay vì vào đại học, cô và chồng cũ lên kế hoạch kết hôn, Nana đã nhún vai nhiều đến mức trông như bị co giật. Tất nhiên, lúc đó Beth đã lờ đi, nghĩ rằng bà chẳng hề cho chồng cô một cơ hội nào cả. Bà không thực sự hiểu anh ấy, rằng họ có thể làm tốt. Chuyện đó đã không bao giờ xảy ra. Nana luôn lịch sự, luôn thân thiết khi có mặt chồng cô, nhưng những cái nhún vai chẳng hề ngừng cho đến khi Beth chuyển về nhà vào mười năm trước. Cuộc hôn nhân ấy chỉ kéo dài gần chin tháng; lúc đó Ben mới chỉ được năm tuần tuổi. Nana đã luôn đúng về anh.

Melody biến mất vào trong nhà, rồi xuất hiện lại chỉ sau vài phút, David đi ngay phía sau cô. Anh đang cầm những chiếc đĩa và dĩa bằng giấy, hiển nhiên là lơ đãng. Cô có thể nhìn thấy đám tóc bạc gần tai anh và những vết nhăn trên trán anh. Lần cuối cô gặp David, những nếp nhăn ấy chưa rõ như thế, điều đó chính là một minh chứng khác cho thấy anh đã phải chịu stress đến mức nào.

Đôi khi, Beth tự hỏi cuộc đời mình sẽ thế nào nếu cô đã kết hôn. Không phải với chồng cũ, tất nhiên. Ý nghĩ đó khiến cô rùng mình. Mỗi cuối tuần phải đối phó với anh ta là quá đủ rồi, cảm ơn nhé. Nhưng với một người nào khác, một người...tốt hơn. Dường như đó là một ý tưởng hay, ít nhất thì cũng về mặt trừu tượng. Sau mười năm, cô đã thấy quen thuộc với cuộc đời mình, và mặc dù có thể sẽ tốt hơn nếu có người chia sẻ với cô các buổi tối hoặc giúp cô mát xa, hoặc cả ngày thứ Bảy chỉ mặc pyjama ở nhà nếu muốn, như vậy cũng tốt. Đó là việc cô vẫn thỉnh thoảng làm. Ben cũng vậy. Họ gọi đó là những “ngày lười biếng.” Đó là những ngày tuyệt nhất từ trước đến nay. Thỉnh thoảng họ dành hẳn một ngày hoàn toàn không làm gì bằng cách gọi bánh pizza và xem một bộ phim. Thật là như thiên đường.

Bên cạnh đó, nếu các mối quan hệ đã khó khăn, thì hôn nhân còn khó khăn hơn. Không phải chỉ có Melody và David có tranh cãi, mà dường như hầu hết các cặp đôi đều như vậy. Nhưng đều có giới hạn. Nana vẫn luôn nói gì nhỉ? Đó là gắn kết hai con người khác nhau với hai kỳ vọng sống khác nhau dưới một mái nhà và không phải lúc nào cũng có tôm và cháo yến mạch trong lễ Phục sinh.

Chính xác. Mặc dù cô không chắc chắn Nana lấy phép ẩn dụ của bà từ đâu.

Nhìn qua đồng hồ, cô biết rằng ngay khi bữa tiệc kết thúc, cô sẽ phải quay về để kiểm tra tình hình của Nana. Không nghi ngờ gì, cô sẽ tìm thấy bà trong trường, hoặc là ngồi sau bàn làm việc, hoặc là đang kiểm tra đàn chó. Nana vẫn cứng đầu như vậy đấy. Chân trái của bà không được khỏe thì sao chứ? Chân trái của bà tuy không hoàn hảo, nhưng cũng có phải là sáp ong đâu. Hay rằng bà có thể ngã và bị đau? Bà không phải là tượng sứ đâu mà. Hay tay trái của bà về cơ bản là vô dụng? Chỉ cần bà có thể ăn súp được, thì cũng chẳng làm sao. Bà là một người tốt bụng và có trái tim nhân hậu. Luôn như vậy. “Mẹ ơi?”

Lạc trong suy nghĩ của mình, cô không nhìn thấy Ben đang đến gần. Gương mặt đầy tàn nhang của cậu bé lấp lánh những giọt mồ hôi. Nước nhỏ xuống quần áo cậu, và những vết cỏ bám trên áo cậu mà cô chắc sẽ không thể nào giặt sạch được.

“Ừ, con yêu?”

“Con không được ở nhà Zach tối nay ạ?”

“Mẹ chắc là bạn ấy phải tập đá bóng mà.”

“Sau khi tập ấy ạ. Sẽ có nhiều người ở đó mà, và mẹ Zach đã tặng cho bạn ấy một chiếc đàn Guitar Hero làm quà sinh nhật đấy ạ.”

Cô biết lý do thật sự khiến Ben xin đến nhà Zach.

“Không phải là tối nay. Con không đi được. Bố con sẽ đến đón con lúc năm giờ đấy.”

“Mẹ có thể gọi xin bố giúp con được không ạ?”

“Con sẽ cố. Nhưng mẹ biết đấy...” Ben cúi đầu, và như mọi khi, trái tim cô lại nhói đau. “Ừ, mẹ biết rồi.”

Mặt trời chiếu qua cửa kính chắn gió với nhiệt độ như muốn nướng chín mọi thứ, còn Beth chỉ ước cái điều hòa nhiệt độ trong xe của cô đã được sửa. Kéo cửa sổ xuống làm những lọn tóc đập thẳng vào mặt cô, đau rát. Cô lại lần nữa nhắc nhở bản thân phải cắt tóc. Cô tưởng tượng mình sẽ nói với thợ cắt tóc rằng, “Cứ cắt béng nó đi, Terri ạ.” Nhưng cô biết rằng rồi mình sẽ lại yêu cầu cắt kiểu tóc như mọi lần thôi. Trong một số việc, cô chỉ là một kẻ hèn nhát.

“Trông các con có vẻ vui quá nhỉ.”

“Vâng ạ.”

“Đó là tất cả những gì con có thể nói được với mẹ à?”

“Con chỉ mệt thôi mẹ.”

Cô chỉ tay về phía quán Diary Queen ở phía xa. “Con có muốn ghé qua đó mua kem không?”

“Kem không tốt cho con mà mẹ.”

“Này, ở đây mẹ mới là mẹ nhé. Đó là những gì đáng lẽ mẹ mới là người nói. Mẹ đang nghĩ nếu con thấy nóng thì có thể ăn một chút cũng được.”

“Con không đói. Con vừa mới ăn bánh rồi mà.”

“Được rồi. Tùy con thôi. Nhưng đừng có đổ lỗi cho mẹ nếu con về nhà và nhận ra là mình nên chộp lấy cơ hội đó đấy nhé.”

“Con sẽ không thế đâu.” Cậu quay ra phía cửa sổ. “Này, cậu không sao chứ?”

Khi Ben nói, giọng cậu gần như bị gió thổi tạt đi. “Sao con lại phải đến chỗ bố ạ? Có vẻ như bọn con sẽ chẳng làm gì hay ho cả. Bố sẽ bắt con đi ngủ từ chín giờ, cứ như con đang học lớp hai hay sao ấy. Con sẽ thậm chí chẳng hề thấy mệt. Và ngày mai, bố sẽ bắt con làm việc vặt cả ngày.”

“Mẹ nghĩ là sau khi đến nhà thờ, bố sẽ đưa con đến nhà ông để ăn bữa nửa buổi chứ.”

“Con vẫn chẳng muốn đi.”

Mẹ cũng chẳng muốn đi, cô nghĩ. Nhưng cô có thể làm gì nào?

“Sao con không mang theo một quyển sách nhỉ?” Beth gợi ý. “Con có thể đọc sách trong phòng vào tối nay, và nếu ngày mai con thấy phát chán thì cũng có thể đọc sách ở đó nữa.”

“Mẹ luôn nói như thế thôi.”

Bởi vì mẹ cũng chẳng biết phải nói gì khác với con nữa, cô nghĩ. “Con có muốn đi đến hiệu sách không?”

“Không,” cậu đáp. Nhưng cô có thể thấy rằng cậu không có ý đó.

“Ừm, thôi cứ đi cùng mẹ nhé. Mẹ muốn mua một quyển sách cho mình.”

“Thôi được.”

“Mẹ rất tiếc về chuyện này, con biết mà.”

“Vâng, con biết.”

Đi đến hiệu sách cũng giúp tâm trạng Ben vui vẻ hơn một chút. Mặc dù cuối cùng cậu cũng chọn hai quyển sách về những chuyện bí ẩn về Anh em nhà Hardy, nhưng cô vẫn thấy vai cậu thõng xuống khi xếp hàng chờ thanh toán. Trên đường về nhà, cậu mở một quyển sách ra và giả vờ đọc. Beth khá chắc chắn rằng cậu làm vậy chỉ để cô khỏi hỏi dồn cậu hoặc cố gắng, với sự vui vẻ giả tạo, để làm cậu cảm thấy khá hơn về việc ở qua đêm tại nhà bố cậu. Ở tuổi lên mười, Ben đã là đứa trẻ rất giỏi đoán trước phản ứng của cô.

Cô ghét sự thật rằng cậu không thích đến nhà bố cậu. Cô đã nhìn cậu đi vào trong nhà, biết rằng cậu đang đi lên phòng để gói ghém đồ đạc. Thay vì đi theo Ben, cô ngồi xuống bậc thềm và ước lần thứ một nghìn rằng mình đã làm một cái xích đu ở đó. Trời vẫn nóng, và từ tiếng rên rỉ phát ra từ cái chuồng phía bên kia sân, có thể thấy rõ rằng lũ chó cũng bị cái nóng làm cho khó chịu. Cô lắng nghe tiếng của Nana ở bên trong. Bà có ở trong bếp lúc Ben đi ngang qua không nhỉ? Cô rõ ràng đã nghe thấy tiếng bà. Nana là người có bước đi lộn xộn. Không phải bởi vì cơn đột quỵ, mà vì nó là một phần trong tính cách của bà. Bảy mươi sáu tuổi mà như mười bảy tuổi, bà thường cười to sảng khoái, khua thìa ầm ĩ vào xoong chảo khi nấu ăn, hâm mộ bóng chày, và bật radio đến mức thủng màng nghĩ bất cứ khi nào kênh NPR phát sóng chương trình Big Band. “Âm nhạc như thế này thì chẳng thể trở nên củ chuối được đâu, cháu biết đấy." Cho tới khi bị đột quỵ, bà thường đi ủng cao su, mặc đồ bảo hộ lao động, và đội một chiếc nón rơm rộng vành gần như mỗi ngày, đi lại quanh sân khi dạy lũ chó nhảy trên hai chân, đi hoặc đứng.

Nhiều năm trước đây, cùng với chồng mình, Nana đã dạy chúng làm được khá nhiều việc. Họ cùng nhau nhân giống và huấn luyện những chú chó săn, chó phục vụ cho người mù, chó đánh hơi thuốc cho cảnh sát, chó bảo vệ nhà. Giờ ông đã ra đi, bà chỉ thỉnh thoảng mới làm những việc đó. Không phải bởi vì bà không biết làm thế nào; vì dù sao bà cũng đã luôn làm hầu hết việc huấn luyện. Nhưng để huấn luyện một chú chó trông nhà phải mất mười bốn tháng, và với sự thật rằng Nana có thể có tình cảm với một con sóc chỉ trong chưa đầy ba giây, thì việc phải từ bỏ lũ chó khi kết thúc huấn luyện luôn làm trái tim bà tan vỡ. Không có ông ở bên cạnh để an ủi bà, “Chúng ta đã bán nó rồi, vì thế chúng ta không còn lựa chọn nào khác,” Nana thấy tốt hơn là nên bỏ qua phần đó của công việc.

Thay vào đó, những ngày này Nana điều hành một trường huấn luyện khá phát đạt. Người ta sẽ gửi chó của họ vào đó vài tuần – trại huấn luyện chó, bà gọi nó như vậy – và Nana sẽ dạy chúng cách ngồi, nằm, đi, đứng và nhảy trên hai chân. Đó là những mệnh lệnh đơn giản và không phức tạp đến mức gần như mọi con chó đều có thể học được rất nhanh. Thông thường, có khoảng mười lăm đến hai mươi lăm con chó quay vòng trong mỗi hai tuần, và mỗi chú chó đều cần xấp xỉ hai mươi phút huấn luyện mỗi ngày. Nếu quá số thời gian đó, lũ chó sẽ mất hứng thú. Cũng không tệ lắm nếu như có mười lăm chú chó, nhưng nếu nhận dạy hai mươi lăm chú thì họ sẽ phải làm việc muộn hơn, vì mỗi con chó đều cần được đi dạo. Và đó cũng không phải vấn đề gì lắm đối với việc cho ăn, bảo dưỡng chuồng, nghe các cú điện thoại, làm việc với khách hàng và các việc giấy tờ. Trong phần lớn mùa hè, Beth đã làm việc mười hai hoặc mười ba giờ một ngày. Họ luôn luôn bận rộn. Để huấn luyện một chú chó không khó – Beth đã luôn giúp Nana kể từ khi cô mới mười hai tuổi – và có cả tá cuốn sách dạy về việc đó. Thêm nữa, bệnh viện thú y cũng có dạy các bài học cho chó và chủ của chúng mỗi sang Chủ Nhật với giá rẻ. Beth biết hầu hết mọi người có thể dành hai mươi phút mỗi ngày trong vài tuần để huấn luyện chó của mình. Nhưng họ lại không làm thế. Thay vào đó, những người đến từ những nơi xa như Florida và Tennessee cũng ghé qua để gửi người khác huấn luyện chó của mình. Cứ cho là Nana là người huấn luyện chó có tiếng, nhưng bà thực sự cũng chỉ dạy những con chó cách đi và ngồi, đứng trên gót chân và đứng im. Đó chẳng phải là môn khoa học gì cao siêu. Nhưng người ta luôn luôn cực kì biết hơn. Và luôn luôn, luôn luôn cảm thấy tuyệt diệu.
__________________
uninthichankem@gmail...<= đóng góp công sức cho dự án ebook
thichankem vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 06-08-2012, 12:41 PM   #6
thichankem
Học sinh
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 57
Xin cảm ơn: 942
Được cảm ơn 54 lần trong 36 bài
Default

Betch nhìn đồng hồ. Keith – chồng cũ của cô – sẽ đến sớm thôi. Mặc dù cô với anh có vài vấn đề - Chúa mới biết cô có vấn đề nghiêm trọng – anh vẫn có quyền giám hộ chung, vì thế, cô phải cố gắng để làm tốt việc đó. Cô luôn tự nhủ rằng việc Ben dành thời gian ở cạnh bố cậu là rất quan trọng, đặc biệt là trong những năm tháng tuổi teen sắp tới của cậu, và cô phải thừa nhận rằng anh cũng không phải là người xấu. Chưa trưởng thành, đúng, nhưng cũng không tệ. Anh thỉnh thoảng vẫn uống vài cốc bia, nhưng đó không phải là chất cồn; anh cũng không dùng thuốc; cũng chưa bao giờ lạm dụng hai mẹ con cô. Anh vẫn tới nhà thờ mỗi sáng Chủ Nhật. Anh có một công việc đều đặn và trả tiền nuôi con đúng hạn. Hoặc, không thì cũng là gia đình anh trả. Tiền đó được gửi từ một quỹ ủy thác, một trong nhiều quỹ ủy thác mà gia đình anh đã thành lập được nhiều năm. Và phần lớn, anh thường cắt sợi dây liên lạc không-bao-giờ-dứt với cô bạn gái mỗi khi ở cạnh con trai. Từ khóa ở đây là: “phần lớn.” Gần đây, anh đã trở nên tốt hơn, nhưng cô vẫn khá chắc chắn rằng khả năng cam kết với các cô bạn gái hiện tại của anh so với cam kết nuôi dạy con được đổi mới cũng chẳng khá hơn. Cô chẳng thực sự để ý nhiều lắm, ngoại trừ sự thật rằng khoảng cách tuổi tác của họ với Ben thì còn gần hơn so với anh, và, như một quy luật chung, IQ của họ chỉ bằng bát salad. Cô không hề tỏ ra thù hận; thậm chí Ben cũng nhận ra điều đó. Vài tháng trước, Ben đã phải giúp một trong số họ làm mẻ mì ống Kraft thứ hai sau khi cô ta đã làm cháy mẻ thứ nhất. Mấy chuyện “cho sữa, bơ, trộn đều và quấy” có vẻ như quá sức của cô ta.

Tuy nhiên, đó không phải là điều khiến Ben bực bội nhất. Các cô bạn gái đều ổn – họ thường đối xử với cậu như với em trai hơn là con trai. Cậu thực sự cũng không thấy phiền gì với các việc vặt. Cậu có thể phải dọn sân hoặc dọn bếp và đi vứt rác, nhưng không giống kiểu chồng cũ của cô đối xử với Ben như một nô lệ. Và các công việc vặt tốt cho cậu; Ben cũng phải làm việc vặt vào các cuối tuần cậu ở nhà với cô. Không, vấn đề chính là sự trẻ con của Keith, vẻ thất vọng tàn nhẫn mà anh dành cho Ben. Keith muốn một vận động viên; nhưng thay vào đó, anh lại có một đứa con trai muốn chơi vi-ô-lông. Anh muốn một người có thể đi săn cùng mình; nhưng lại có một đứa con trai thích đọc sách hơn. Anh muốn một cậu bé có thể chơi bắt hoặc ném rổ; nhưng lại phải chịu trách nhiệm với một cậu con trai vụng về với tầm nhìn kém cỏi.

Anh chưa bao giờ nói điều đó với Ben hay với cô, và anh cũng không cần phải làm vậy. Điều đó được thể hiện quá rõ qua cái cách khinh khỉnh khi anh nhìn Ben chơi đá bóng, trong cách anh từ chối khen ngợi Ben khi cậu giành chiến thắng trong giải cờ vua lần trước, hay cách anh không ngừng bắt Ben trở thành một người khác. Điều đó khiến Ben phát điên và cùng lúc làm trái tim cô tan nát, cậu đã cố để làm vui lòng cha cậu, nhưng theo thời gian, cậu bé tội nghiệp cảm thấy kiệt sức. Cứ xem chuyện học chơi đuổi bắt. Trò đó không có hại gì, phải chứ? Ben có thể học để thích thú với trò đó, cậu có thể còn thích chơi cả trò Little League[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ]. Thật hoàn hảo khi chồng cũ của cô đề nghị trò đó, và ban đầu Ben đã rất hăng hái. Nhưng sau một thời gian, Ben trở nên ghét bỏ khi nghĩ về nó. Nếu cậu có thể bắt được ba quả một lúc, thì bố cậu lại muốn cậu thử bốn quả. Khi cậu làm được, thì lại là năm. Cứ mỗi khi cậu làm được tốt hơn thì bố cậu lại muốn cậu bắt được tất cả các quả bóng. Và rồi bắt bóng trong khi đang chạy về phía trước. Bắt bóng khi đang chạy giật lùi. Bắt bóng khi đang trượt. Bắt bóng khi đang lao đi. Bắt quả bóng mà bố cậu ném khó hết mức có thể. Và nếu cậu lỡ một quả? Bạn sẽ nghĩ rằng thế giới sắp đến ngày tận thế. Bố cậu không phải là kiểu người có thể nói, Tốt lắm, nhà vô địch! hay, Nỗ lực hay lắm.’ Không, anh là kiểu người sẽ hét lên, Thôi nào! Đừng có kém cỏi như thế!

Chà, cô đã nói với anh về chuyện đó. Đã nói với anh đến phát ngán rồi. Nó đi vào từ tai này và ra ở tai kia, tất nhiên là thế. Vẫn câu chuyện cũ rích. Bất chấp – hoặc có lẽ là do – sự trẻ con của anh, Keith cứng đầu và hay khăng khăng về nhiều chuyện, và việc nuôi dạy Ben là một trong số đó. Anh muốn một đứa con trai theo ý mình, và nhờ Chúa, anh sắp có. Ben, như dự đoán, bắt đầu phản ứng theo cách tức giận thụ động riêng của cậu. Cậu bắt đầu lỡ bất cứ thứ gì bố cậu ném, kể cả những cú ném cầu vồng đơn giản, và lờ đi tâm trạng thất vọng đang lớn dần của cha cậu, cho tới khi anh cuối cùng cũng phải ném phịch găng tay xuống sân và quát tháo ầm ĩ trong nhà rồi dỗi suốt phần còn lại của buổi chiều. Ben giả vờ như không để ý, ngồi xuống bên dưới một cây thông để đọc sách cho tới khi cô đến đón cậu vài giờ sau đó.

Cô và chồng cũ không cãi nhau chỉ vì Ben; họ cũng như lửa với băng. Trong khi anh là lửa thì cô lại là băng. Anh vẫn bị cô quyến rũ, điều đó luôn khiến cô cáu tiết. Cô không tài nào hiểu nổi vì lý do quái quỷ gì mà anh tin rằng cô muốn làm mọi việc cùng anh, nhưng dù cho cô có nói gì với anh thì anh cũng không chịu từ bỏ ý nghĩ đó. Hầu hết thời gian cô chỉ có thể vừa vặn nhớ được lý do cô bị anh hấp dẫn nhiều năm trước đây. Cô có thể dẫn ra được các lý do của cuộc hôn nhân – trên hết là do cô trẻ và ngốc nghếch, và đã chửa vượt mặt – nhưng bây giờ, cứ mỗi khi anh nhìn cô chằm chằm từ trên xuống dưới, cô lại co mình lại. Anh không phải là kiểu người cô thích. Nói thẳng ra, anh chưa bao giờ là kiểu người cô thích. Nếu cả cuộc đời cô đã được ghi lại trông một cuộn băng, thì cuộc hôn nhân này sẽ là một trong các sự kiện mà cô sẽ vui mừng ghi đè thứ khác lên. Trừ Ben, tất nhiên.

Cô ước gì em trai cô, Drake, ở đây, và cô cảm thấy nỗi đau thường thấy khi nghĩ về Drake. Cứ mỗi khi cậu ghé qua, Ben lại đi theo cậu ở khắp mọi nơi theo cách lũ chó đi theo Nana. Cùng nhau, họ sẽ chạy khắp nơi để bắt bướm hay dành thời gian ở ngôi nhà trên cây mà ông cô đã xây, với duy nhất một lối vào là một cây cầu yếu ớt bắc qua một trong hai nhánh cây. Không như chồng cũ của cô, Drake chấp nhận Ben theo nhiều cách khiến cậu giống một người cha đối với Ben hơn cả Keith. Ben yêu quý Drake, cô cũng yêu quý Drake vì cách cậu lặng lẽ xây dựng lòng tự tin cho Ben. Cô nhớ đã cảm ơn cậu một lần vì điều đó, nhưng cậu chỉ nhún vai. “Em chỉ là dành thời gian ở bên thằng bé thôi mà,” cậu nói như giải thích.

Cô biết mình cần phải vào kiểm tra tình hình của Nana. Đứng lên khỏi chỗ, cô chiếu đèn vào văn phòng, nhưng cô nghi rằng Nana đang sắp xếp giấy tờ. Nhiều khả năng bà đang trong những cái chuồng phía sau trường, nên cô đi theo hướng đó. Hi vọng Nana không nghĩ đến chuyện dắt một đàn chó đi dạo. Bà sẽ không thể nào giữ được thăng bằng – hay thậm chí là giữ được lũ chó – nếu chúng kéo mạnh những sợi xích, nhưng đó luôn là một trong số những công việc ưa thích của bà. Bà luôn giữ quan điểm rằng hầu hết những con chó đều không tập luyện đầy đủ, và đây là một nơi rất tuyệt để khắc phục chuyện đó. Với gần bảy mươi mẫu, nó trải rộng trên vài cánh đồng, được bao quanh bởi những rừng cây gỗ cứng nguyên sơ, có nửa tá đường mòn vắt qua và hai con suối nhỏ chảy dọc theo sông South River. Thực tế, mảnh đất này được mua từ cách đây năm mươi năm và chẳng có giá trị gì khi đó, nhưng giờ đã trở nên rất đáng giá. Đó là những gì luật sư nói, ông ta đã tới để thăm dò ý định của Nana về việc bán mảnh đất này.

Bà biết chính xác ai là người đứng sau chuyện này. Vì thế Nana đã làm vậy, giả vờ là người bị mổ não trong khi ngồi nói chuyện với luật sư. Bà nhìn chằm chằm vào ông ta với đôi mắt mở to, trống rỗng, đánh rơi từng quả nho xuống sàn, và lầm bầm một cách chậm hiểu. Bà và Beth đã cười chuyện đó hàng giờ sau đó.

Liếc qua cửa sổ văn phòng, không thấy bóng dáng của Nana, nhưng cô có thể ngay thấy giọng bà vang lên từ những cái chuồng.

“Đứng lại…tới đây. Bé ngoan! Làm tốt lắm!”

Đi quanh góc đó, Beth thấy Nana đang tán dương một con chó sư tử khi nó chạy về phía bà. Nó gợi đến hình ảnh một trong số những đồ chơi vặn dây cót cho chó mà bạn có thể mua ở Wal-Mart.

“Bà đang làm gì vậy, Nana? Bà không được ở đây mới đúng chứ.”

“Ồ, Beth à.” Không như hai tháng trước đây, giờ bà không còn bị nói nhịu nữa.

Beth đặt tay lên hông. “Bà không nên ở đây một mình.”

“Bà đã mang theo một cái điện thoại di động. Bà nghĩ là bà sẽ gọi nếu gặp vấn đề gì.”

“Bà không có điện thoại di động.”

“Bà có cái của cháu. Bà đã lén lấy nó từ ví cháu sáng nay.”

“Vậy thì bà định gọi cho ai?” Dường như bà chưa tính đến chuyện đó, và trán bà nhăn lại khi liếc qua lũ chó. “Xem tao phải đối mặt với chuyện gì này, Bảo bối? Tao đã bảo là cháu gái tao còn sắc bén hơn cả một cái móc cẩu mà.” Bà thở ra một tiếng nghe như một con cú.

Beth biết sắp đến lúc thay đổi chủ đề.

“Ben đâu?” Bà hỏi.

“Ở trong và đã sẵn sàng rồi ạ. Thằng bé chuẩn bị đến chỗ bố nó.”

“Bà cá là nó xúc động lắm đấy. Cháu có chắc là nó lại không trống ở cái nhà trên cây chứ?”

“Thôi nào,” Beth nói. “Anh ấy vẫn là bố nó.”

“Vậy à?”

“Chắc chắn đấy ạ.”

“Cháu có chắc là cháu không loanh quanh với bất cứ ai khác từ hồi đó chứ? Không cả một đêm với một tay bồi hay một tài xế xe tải, hay ai đó ở trường chứ?” Giọng bà gần như là hi vọng. Bà luôn hi vọng khi bà nói điều đó.

“Cháu chắc chắn. Và cháu đã nói với bà điều đó hàng triệu lần rồi.”

Bà nháy mắt. “Phải, nhưng Nana luôn hi vọng trí nhớ của cháu được cải thiện.”

“Nhân tiện, bà đã ở đây bao lâu rồi ạ?”

“Mấy giờ rồi?”

“Gần bốn giờ rồi ạ.”

“Thế thì bà đã ở đây được ba tiếng rồi.”

“Trong cái nóng thế này ư?”

“Bà không bị sao cả, Beth. Đấy chỉ là tai nạn.”

“Bà đã bị đột quỵ.”

“Nhưng cũng không phải là nghiêm trọng.”

“Bà không thể cử động tay.”

“Miễn là bà vẫn ăn được súp, còn không bà cũng chẳng cần đến nó. Giờ để bà đi gặp cháu bà nào. Bà muốn tạm biệt thằng bé trước khi nó đi.” Họ đi về phía trường, Bảo bối đi theo sau họ, thở gấp, đuôi phất phơ trong không khí. Một con chó dễ thương.

“Bà nghĩ tối nay bà muốn ăn đồ Trung Quốc,” Nana nói. “Cháu có muốn không?”

“Cháu chưa nghĩ về chuyện đó.”

“À, vậy thì nghĩ đi nhé.”

“Vâng, chúng ta có thể ăn món Trung Quốc. Nhưng cháu không muốn cái gì đó quá nhiều đạm. Và không chiên rán. Trời quá nóng.”

“Cháu chẳng vui tính gì cả.”

“Nhưng cháu khỏe mạnh.”

“Như nhau thôi. Này, và vì cháu quá khỏe mạnh, cháu có phiền không nếu đem Bảo bối đi chỗ khác? Nó ở chuồng số mười hai. Bà vừa nghe một chuyện cười và muốn kể cho Ben.”

“Bà nghe chuyện cười ở đâu vậy?”

“Trên đài.”

“Nó có thích hợp không?”

“Tất nhiên là thích hợp. Cháu nghĩ bà là ai chứ?”

“Cháu biết chính xác bà là ai. Thế nên cháu mới hỏi. Chuyện cười gì thế ạ?”

“Hai kẻ ăn thịt người đang ăn thịt một diễn viên hài, và một trong số chúng quay ra hỏi tên còn lại, ‘Mày có thấy vị buồn cười không?’” Beth cười. “Nó sẽ thích đấy.”

“Tốt. Đứa trẻ tội nghiệp cần thứ gì đó để làm nó vui lên.”

“Thằng bé ổn mà.”

“Phải, chắc là vậy. Bà không chỉ rơi xuống xe chở sữa đâu, cháu biết đấy.”

Khi họ đến trường, Nana tiếp tục đi về phía ngôi nhà, bước đi tập tễnh của bà trở nên dứt khoát hơn lúc sáng. Bà đang khá hơn, nhưng vẫn còn cần nhiều thời gian để khỏe hẳn lại.

[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ] Trò chơi bóng rổ mini dành cho trẻ từ 8 đến 12 tuổi.
__________________
uninthichankem@gmail...<= đóng góp công sức cho dự án ebook

thay đổi nội dung bởi: thichankem, 06-08-2012 lúc 12:42 PM
thichankem vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
123451212 (26-08-2012)
Old 06-08-2012, 12:44 PM   #7
thichankem
Học sinh
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 57
Xin cảm ơn: 942
Được cảm ơn 54 lần trong 36 bài
Default

Chương 4: Thibault
(Người dịch: Truong Thuy Trang)


Thủy quân lục chiến dựa vào con số 3. Đó là một trong số những điều đầu tiên họ dạy bạn khi đào tạo cơ bản. Hãy hiểu đơn giản thế này. Ba lính thủy đánh bộ tạo thành một nhóm, ba nhóm thành một tiểu đội, ba tiểu đội tạo thành một trung đội, ba trung đội tạo thành một đại đội, ba đại đội tạo thành một tiểu đoàn, và ba tiểu đoàn thành một trung đoàn. Trên giấy tờ là thế. Vào thời họ xâm lược Iraq, trung đoàn của họ được liên kết với các đơn vị không quân từ các đơn vị khác, trong đó có Tiểu đoàn Trinh sát Bọc thép nhẹ (LAR), các Tiểu đoàn Bắn tỉa thuộc Thủy quân lục chiến Mười một, Tiểu đoàn xe đột kích thứ hai và thứ ba, Đại đội B thuộc Tiểu đoàn Công binh thứ nhất, và Tiểu đoàn Hậu cần 115. Đồ sộ. Chuẩn bị cho mọi chuyện có thể xảy ra. Có tổng cộng gần sáu ngàn nhân sự.

Khi Thibault đi dạo dưới bầu trời đang bắt đầu chuyển màu sang màu hoàng hôn, anh nghĩ về buổi tối hôm đó, chính xác thì đó là trận chiến đầu tiên của anh trên đất của kẻ thù. Trung đoàn của anh, Trung đoàn Một, Trung đoàn Năm, trở thành đơn vị đầu tiên băng qua Iraq với ý định chiếm giữ cánh đồng dầu Rumaylah. Mọi người đều nhớ rằng Saddam Hussein đã đốt cháy hầu hết các giếng dầu ở Kuwait khi ông ta rút lui khỏi trận Chiến tranh Vùng vịnh đầu tiên, và không ai muốn điều đó lại xảy ra lần nữa. Nói ngắn gọn, Trung đoàn Một và Năm, so với các trung đoàn khác, đã đến đó kịp thời. Mới chỉ có bảy giếng dầu đang bị đốt lúc họ giải cứu khu vực. Từ chỗ đó, tiểu đội của Thibault được lệnh hướng lên phía bắc đi Baghdad để giúp giải cứu thủ đô. Trung đoàn Một và Năm là trung đoàn lính thủy được trang bị tốt nhất trong Thủy quân lục chiến và vì thế họ được chọn để dẫn đầu cuộc truy kích sâu nhất vào lãnh thổ kẻ thù trong toàn bộ lịch sử của Thủy quân lục chiến. Chuyến du hành Iraq lần đầu của anh đã kéo dài hơn bốn tháng.

Năm năm sau sự kiện đó, hầu hết các chi tiết về chuyến du hành đó đã bị lu mờ. Anh đã hoàn thành công việc của mình và thậm chí đã được gửi về Pendleton. Anh không kể về chuyện đó. Anh đã cố không nghĩ đến nó. Trừ một điều: Ricky Martinez và Bill Kincaid, hai người còn lại trong nhóm của Thibault, là một phần của câu chuyện mà anh sẽ không bao giờ quên.

Chọn lấy ba người bất kỳ, gắn họ lại với nhau, và rồi họ sẽ có những điểm khác nhau. Không có gì phải ngạc nhiên cả. Và nhìn bề ngoài thì họ khác nhau thật. Ricky lớn lên trong một căn hộ nhỏ ở Midland, Texas, là một cựu cầu thủ bóng chày và là một fan cuồng của môn cử tạ, đã từng chơi cho hệ thống nông trại Minnesota Twins trước khi được gọi; Bill thì đã từng chơi kèn trompet trong đội kèn diễu hành ở trường trung học, là người ở vùng nông thôn phía bắc New York, lớn lên trên một trại sản xuất bơ sữa cùng với năm người chị em gái. Ricky thích những cô nàng tóc vàng, Bill thì thích các cô da nâu; Ricky nhai thuốc lá sợi, còn Bill thì hút; Ricky thích nhạc rap, Bill lại thích nhạc đồng quê. Đó cũng chẳng phải vấn đề to tát. Họ được huấn luyện cùng nhau, họ ăn cùng nhau, ngủ cùng nhau. Họ tranh luận về thể thao và chính trị. Họ tán phét như những người anh em và chơi khăm lẫn nhau. Bill có thể thức dậy với một bên lông mày bị cạo; Ricky có thể thức giữa đêm với cả hai bên lông mày đã biến mất. Thibault đã học cách tỉnh giấc chỉ với tiếng động nhỏ nhất và nhờ đó đã giữ nguyên vẹn được cặp lông mày của mình. Họ đã cười vì chuyện đó hàng tháng trời. Một đêm say khướt, họ đã xăm các hình xăm đồng bộ, mỗi hình đều thể hiện lòng trung thành của họ với thủy quân lục chiến.

Sau rất nhiều thời gian ở bên nhau, họ đã đạt tới điểm có thể đoán trước được người kia sẽ làm gì. Mỗi người trong họ đã lần lượt cứu sống Thibault, hoặc ít nhất cũng cứu anh khỏi những tổn hại nghiêm trọng.

Bill đã tóm lưng áo chống đạn của Thibault ngay khi Thibault bị đẩy ra khỏi chỗ nấp; khoảnh khắc sau, một tay bắn tỉa đã bắn thương hai binh sĩ ở gần đó. Lần thứ hai, Thibault lơ đãng đã suýt bị một tay lính thủy khác đang lái chiếc Humvee đi với tốc độ cao đâm phải; lần đó, chính Ricky đã kéo cánh tay anh và cứu anh. Ngay cả trong chiến tranh, con người cũng chết vì tai nạn ô tô. Cứ nhìn Patton thì biết.

Sau khi cứu được những cánh đồng dầu, những người còn sống sót trong đại đội đã đến khu ngoại ô Baghdad. Thành phố này vẫn chưa đầu hàng. Họ là một phần của đoàn hộ tống, ba trong số một trăm người, đang thắt chặt vòng vây thành phố. Bên cạnh tiếng gầm động cơ của những chiếc xe Allied, tất cả mọi thứ đều yên lặng khi họ tiến vào những vùng dân cư xa xôi hẻo lánh. Khi tiếng súng đại bác vang lên trên con đường rải sỏi xa đại lộ, tiểu đội của Thibault được lệnh tuần tra.

Họ đánh giá quang cảnh. Các ngôi nhà hai và ba tầng đan xen ở cùng một phía của con đường gồ ghề. Một con chó đang ăn rác. Khói bốc lên từ một chiếc xe cách đó hàng trăm mét. Họ chờ đợi. Không nhìn thấy gì cả. Đợi thêm chút nữa. Không nghe thấy gì. Cuối cùng, Thibault, Ricky, và Bill được lệnh đi qua phố. Họ đã làm theo, di chuyển nhanh, tiếp cận an toàn. Từ chỗ đó, tiểu đội của họ tiến lên con phố, vào chỗ không xác định được.

Khi âm thanh của súng đại bác vang lên lần nữa trong ngày hôm đó, đó không còn là một phát đơn lẻ. Nó là tiếng nổ chết người của hàng tá, rồi đến hàng trăm viên đạn từ các vũ khí tự động dồn họ vào trong vòng đại bác. Thibault, Ricky, và Bill, cùng với những người còn lại trong tiểu đội đã băng qua phố, thấy mình bị kẹt ở ô cửa, hầu như chẳng có chỗ nào để trốn.

Trận hỏa chiến ác liệt không kéo dài lâu, người ta kể lại. Nó không đủ lâu. Trận bão lửa đổ xuống từ những cửa sổ phía trên đầu họ. Thibault và đội của mình theo bản năng giương vũ khí và bắn, rồi lại bắn. Bên kia phố, hai người của họ đã bị thương, nhưng quân tiếp viện cũng đến rất nhanh. Một chiếc xe tăng tiến vào, bộ binh di chuyển nhanh từ phía sau. Không khí rung chuyển khi họng súng lóe sang và tầng trên của một ngôi nhà sụp đổ, bụi và kính rơi đầy trong không khí. Từ mọi phía, Thibault nghe thấy tiếng hét, nhìn thấy thường dân nhảy ra từ các tòa nhà xuống phố. Súng vẫn tiếp tục bắn; chú chó đi lạc bị trúng đạn và ngã nhào. Thường dân ngã về phía trước khi bị bắn vào lung, chảy máu và gào khóc. Một anh lính thủy quân bị thương ở cẳng chân. Thibault, Ricky, và Bill vẫn không thể cử động, họ bị loạt đạn bắt đều đều lên bức tường kế bên và ở dưới chân cầm giữ. Nhưng ba người bọn họ vẫn tiếp tục bắn. Không khí rung chuyển vì một tiếng gầm, và tầng trên của một ngôi nhà khác lại sụp đổ. Chiếc xe tăng vẫn tiến về phía trước và giờ đang lại gần. Cùng lúc đó, loạt súng đại bác của kẻ thù đến từ hai hướng, không chỉ một. Bill liếc anh; anh liếc Ricky. Họ biết cần phải làm gì. Đó là thời cơ để di chuyển; nếu họ ở lại, họ sẽ chết. Thibault đứng lên trước. Đúng lúc đó, tất cả bỗng dưng biến thành màu trắng, rồi chuyển sang đen.

Ở Hampton, hơn năm năm sau, Thibault không thể nhớ rõ các chi tiết khác ngoài cảm giác giống như anh bị ném vào một cái máy giặt. Do vụ nổ, anh bị bắn lộn nhào ra ngoài phố, tai rung lên. Anh bạn Victor và một anh quân y hải quân khác cùng nhanh chóng chạy đến bên anh. Chiếc xe tăng vẫn tiếp tục bắn, và từng chút một, con phố đã rơi vào tầm kiểm soát.

Anh biết được tất cả những chuyện này sau chuyện đó, cũng như biết được rằng vụ nổ do một lựu đạn tên lửa, RPG, gây ra. Sau đó, một quân nhân đã cho Thibault biết rằng khả năng lớn nhất có thể là do xe tăng; nó bắn trượt tháp pháo hàng inch. Thay vào đó, cứ như là định mệnh, nó rơi thẳng về hướng Thibault, Ricky, và Bill.

Thibault được đưa lên một chiếc Humvee và được giải cứu khỏi chiến trường, trong tình trạng bất tỉnh. Kỳ diệu thay, vết thương của anh nhỏ, và trong ba ngày nữa anh sẽ được quay lại đội của mình. Ricky và Bill thì không; từng người sau đó đã được mai táng với toàn bộ lòng tôn kính. Ricky chỉ còn cách ngày sinh nhật lần thứ hai mươi hai của anh có một tuần. Bill thì mới có hai mươi tuổi. Họ không phải là tổn thất đầu tiên hay cuối cùng của chiến tranh. Cuộc chiến lại tiếp tục.

Thibault buộc bản thân không được nghĩ nhiều về họ. Có vẻ như nhẫn tâm, nhưng trong chiến tranh, tâm trí không được nghĩ về những chuyện như thế. Thật đau đớn khi nghĩ về cái chết của họ, khi ngẫm về sự vắng mặt của họ, vì vậy anh đã không nghĩ. Cả đội cũng vậy. Thay vào đó, anh làm việc của mình. Anh chú tâm vào sự thật rằng anh vẫn còn sống. Anh chú tâm vào việc giữ cho người khác được an toàn.

Nhưng hôm nay anh cảm thấy nỗi đau từ những kỷ niệm, và mất mát, và anh đã không mai táng họ. Họ đã ở bên anh khi anh bước đi trên những con phố yên lặng của thị trấn, hướng về vùng ngoại ô ở rìa phía xa. Theo chỉ dẫn nhận được ở bàn tiếp tân ở kí túc, anh hướng về phía đông đến Đại lộ 54, đi bộ trên con đường đầy cây dại, cách xa đường chính. Trong các chuyến đi của mình, anh đã học được rằng không bao giờ nên tin tài xế. Chú chó Zeus đuổi sát sau lung, thở nặng nề. Anh dừng lại và cho nó chút nước, những giọt nước cuối cùng còn lại trong bình.
__________________
uninthichankem@gmail...<= đóng góp công sức cho dự án ebook
thichankem vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 06-08-2012, 12:45 PM   #8
thichankem
Học sinh
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 57
Xin cảm ơn: 942
Được cảm ơn 54 lần trong 36 bài
Default

Các quán hàng xếp đầy hai bên của đường cao tốc. Cửa hàng đệm, một nơi giúp cơ thể tự phục hồi, một vườn ươm, một cửa hàng Quick’N-Go bán khí ga và thực phẩm cũ bọc trong giấy bóng, và hai nhà nông trại xiêu vẹo dường như lạc lõng, như thể thế giới hiện đại vừa mới xuất hiện bên cạnh chúng. Có vẻ đó chính xác là điều đã xảy ra, anh giả định. Anh đã tự hỏi người chủ định giữ chúng bao lâu hay tại sao lại có người muốn sống trong một ngôi nhà ngay trên đường cao tốc và bị kẹp giữa các quán hàng.

Xe cộ ầm ĩ đi lại theo cả hai hướng. Các đám mây bắt đầu cuộn vào, xám xịt và đầy trời. Anh đã ngửi thấy mùi mưa trước khi giọt mưa đầu tiên quất vào anh, và trong vòng vài bước chân, nó đã đổ ào xuống. Cơn mưa kéo dài mười lăm phút, làm anh ướt sung, nhưng những đám mây nặng trĩu vẫn tiếp tục bay về hướng bờ biển cho tới khi chỉ còn lại một vạt mỏng. Zeus rũ nước khỏi bộ lông của nó. Bài ca của lũ chim lại tiếp tục từ trên các ngọn cây trong khi sương mù bốc lên từ mặt đất ẩm ướt.

Cuối cùng, anh cũng tới nơi họp chợ, lúc này đã không một bóng người. Không có gì khác lạ, anh nghĩ, trong khi kiểm tra sơ đồ. Rất cơ bản. Đỗ xe trên một miếng đất bẩn đầy sỏi phía bên trái; một vài nhà kho cũ kĩ ở xa phía bên phải; một cánh đồng rộng đầy cỏ dại cho các cuộc diễu hành hội hè được chia đôi, tất cả đều được phân ranh giới bằng một hàng rào xích.

Anh không cần phải nhảy qua rào, hay là nhìn vào bức ảnh. Anh đã thấy nó cả ngàn lần rồi. Anh tiến lên phía trước, tự định hướng, và thậm chí còn quay ra chỗ bán vé.

Đằng sau đó là một biển chào đón hình vòng cung, nơi người ta sẽ treo biểu ngữ. Khi đến chỗ khung cửa, anh quay nó ngang ra theo hướng bắc, đóng khung phòng bán vé và đưa khung cửa vào trung tâm tầm nhìn của anh, giống như nó đã xuất hiện trên bức ảnh. Chính là góc này, anh nghĩ; đây là nơi họ đã chụp bức ảnh này.

Cấu trúc của Thủy quân lục chiến dựa vào con số ba. Ba người trong một nhóm, ba nhóm trong một tiểu đội, ba tiểu đội trong một trung đội. Anh đã phục vụ ba trận đánh ở Iraq. Xem lại đồng hồ, anh nhận thấy mình đã ở Hampton được ba giờ, và thẳng phía trước có lẽ chính là nơi đó, nơi có ba cây thông xanh mọc thành cụm.

Thibault đi bộ lại đường cao tốc, biết rằng anh đã tiến tới gần chỗ cô hơn. Anh chưa đến nơi, nhưng sẽ sớm thôi.

Cô ấy ở đây. Anh biết.

Cái anh cần lúc này là một cái tên. Trong khi đi khắp đất nước, anh đã có nhiều thời giờ để suy nghĩ, và anh quyết định có ba cách để tìm ra điều đó. Thứ nhất, anh có thể tìm một hội cựu chiến binh địa phương và hỏi xem có người nào đã từng phục vụ ở Iraq không. Điều đó có thể giúp anh gặp một người có thể nhận ra cô. Thứ hai, anh có thể đi tới trường trung học ở địa phương và xem họ có quyển kỷ yếu từ khoảng mười đến mười lăm năm trước không. Anh có thể tra cứu từng bức ảnh một. Hoặc thứ ba, anh có thể giơ bức ảnh ra và hỏi khắp mọi nơi.

Cách nào cũng đều có hạn chế, không có gì đảm bảo cả. Đối với hội cựu chiến binh, anh không tìm thấy một hội nào như thế trên danh bạ. Nỗ lực thứ nhất. Bởi vì giờ vẫn đang là kỳ nghỉ hè, anh nghi ngờ khả năng trường học mở cửa; kể cả có mở, cũng rất khó để được phép vào thư viện kỷ yếu. Nỗ lực thứ hai – ít nhất là cho đến giờ. Điều đó có nghĩa là cách tốt nhất của anh là phải đi hỏi xung quanh xem có ai có thể nhận ra cô không.

Vậy thì, hỏi ai bây giờ?

Theo cuốn niêm gián, anh được biết có chin ngàn người sống ở Hampton, phía bắc bang Carolina. Ngoài ra còn mười ba nghìn người khác sống ở hạt Hampton. Có quá nhiều người. Chiến dịch hiệu quả nhất là giới hạn cuộc tìm kiếm trong một một số người có khả năng nhất. Lần nữa, anh bắt đầu với những gì mình biết.

Khi chụp bức ảnh này, cô ấy có thể mới hơn hai mươi tuổi, điều đó có nghĩa là giờ cô ấy đã sắp ba mươi. Hoặc có thể là hơn ba mươi. Cô ấy hiển nhiên là người hấp dẫn. Hơn nữa, trong một thị trấn cõ này, giả sử số người ở các độ tuổi là như nhau, có nghĩa là có khoảng gần 2.750 đứa trẻ từ sơ sinh cho tới mười tuổi, 2.750 đứa trẻ từ mười một đến hai mươi tuổi, và 5.500 người từ hai mươi đến ba mươi tuổi, độ tuổi của cô. Xấp xỉ vậy. Trong đó, anh giả sử có một nửa là đàn ông, một nửa làp hụ nữ. Phụ nữ thường có xu hướng nghi ngờ ý định của anh, đặc biệt nếu họ thực sự biết cô. Anh chỉ là một người lạ. Những người lạ thường nguy hiểm. Anh nghi ngờ khả năng họ sẽ tiết lộ.

Đàn ông thì có thể, phụ thuộc vào cách anh đặt câu hỏi. Theo kinh nghiệm bản thân, gần như tất cả đàn ông đều để ý phụ nữ hấp dẫn ở cùng độ tuổi, đặc biệt nếu họ còn độc thân. Có bao nhiêu đàn ông trong độ tuổi của cô và độc thân? Anh đoán có khoảng ba mươi phần trăm. Có thể đúng, mà cũng có thểs ai, nhưng anh sẽ tìm kiếm từ đó. Khoảng 900 người hoặc hơn. Trong số đó, anh đoán có khoảng tám mươi phần trăm đã sống ở đây vào lúc đó. Chỉ đoán thôi, nhưng Hampton tạo cho anh ấn tượng là một thị trấn muốn di cư đi, đối lập với nhập cư. Điều đó khiến con số giảm xuống 720. Anh còn có thể giảm thêm một nửa nếu tập trung vào những người đàn ông độc thân tuổi từ hai mươi lăm đến ba mươi lăm, thay vì từ hai mươi đến bốn mươi. Làm con số giảm xuống còn 360 người. Anh tính toán có một số trong đó biết cô hoặc biết cô năm năm về trước. Có thể họ đã học cùng trung học với cô hoặc không – anh biết có một ngôi trường trong thị trấn – nhưng họ sẽ biết cô nếu như cô còn độc thân. Tất nhiên cũng có thể cô không còn độc thân – xét cho cùng, phụ nữ ở một thị trấn nhỏ phía nam thường kết hôn sớm – nhưng anh sẽ tìm hiểu với những giả định này trước đã. Theo anh những từ ghi đằng sau bức ảnh – “Hãy giữ cẩn thận! E” – không đủ tình cảm để gửi cho bạn trai hay vị hôn phu. Không hề có “Yêu anh,” hay “Em sẽ nhớ anh.” Chỉ là một chữ viết tắt. Một người bạn.

Giảm 22.000 người xuống còn 360 trong chưa đầy mười phút. Không tệ. Và chắc chắn là đủ tốt để bắt đầu. Giả định, tất nhiên, là cô đã sống ở đây khi chụp bức ảnh này. Giả định rằng lúc đó không phải cô chỉ tới thăm.

Anh biết đó là một giả thiết to lớn khác. Nhưng anh phải bắt đầu từ đâu đó, và anh biết cô đã từng ở đây một lần. Anh sẽ biết sự thật ngay hoặc nhờ vào một giả thiết khác và bắt đầu từ đó.

Những người đàn ông độc thân thường tụ tập ở đâu? Những người có thể dễ dàng nói chuyện ấy? Tôi đã gặp cô ấy vài năm trước và cô đã bảo tôi gọi cô ấy nếu có dịp trở lại, nhưng tôi đã đánh mất tên và số của cô ấy…

Các quán bar. Các quán bi-a.

Ở một thị trấn thế này, anh nghi ngờ liệu có thể có hơn ba hoặc bốn chỗ người ta có thể tụ tập. Các quán bar và các quán bi-a có rượu, và hôm đó là tối thứ Bảy. Chúng đều chật ních khách. Anh đoán mình sẽ nhận được câu trả lời, bằng cách này hay cách khác, trong vòng hai tư giờ tới.

Anh liếc nhìn Zeus. “Có vẻ như tối nay mày sẽ phải ở một mình. Tao có thể mang mày theo, nhưng tao phải để mày ở ngoài thôi và tao cũng không biết sẽ mất bao lâu nữa.”

Zeus vẫn tiếp tục chạy, cúi đầu xuống, thè lưỡi ra. Nóng nực và mệt mỏi. Nó không quan tâm.

“Tao sẽ bật điều hòa nhiệt độ lên nhé?”
__________________
uninthichankem@gmail...<= đóng góp công sức cho dự án ebook
thichankem vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 06-08-2012, 12:57 PM   #9
thichankem
Học sinh
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 57
Xin cảm ơn: 942
Được cảm ơn 54 lần trong 36 bài
Default

Chap 5-6: thichankem (going on)
Chap 7: thanhhoa (done)
Chap 8-10: thichankem (going on)
Chap 11-12: Mai Khoa (done)
Chap 13-14: Mai Khoa ( going on)
Chap 15-36: cần tìm translator!!!
Chap 37-kết: ngocminh2010 (done)
__________________
uninthichankem@gmail...<= đóng góp công sức cho dự án ebook

thay đổi nội dung bởi: thichankem, 22-08-2012 lúc 10:35 PM
thichankem vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-08-2012, 12:27 PM   #10
thichankem
Học sinh
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 57
Xin cảm ơn: 942
Được cảm ơn 54 lần trong 36 bài
Default

Chương 5(Người dịch: thichankem)
Clayton
Chín giờ tối thứ bảy, và anh bị kẹt ở nhà như một vú em. Tuyệt. Quá tuyệt.
Còn gì nữa để kết thúc một ngày như ngày hôm nay đây? Đầu tiên là, một trong số các cô gái suýt bắt gặp anh đang chụp trộm, rồi cái camera của sở bị lấy cắp, và sau đó Logan Thighbolt chơi anh một vố đau. Tệ hơn, anh phải giải thích cho cha, Ngài Trưởng Ty, về việc mất cái máy quay lẫn vụ cái lốp xe. Như dự đoán, cha anh nổi cơn điên và chả hiểu sao không thèm nghe câu chuyện anh kể. Thay vào đó, ổng tống cho anh cả đống câu hỏi. Cuối cùng, Clayton thiệt muốn hét lên với lão già. Cha có lẽ là một người quan trọng với nhiều dân làng ở đây, nhưng người đàn ông đó không có quyền nói anh như một thằng đần. Nhưng Clayton vẫn kể câu chuyện của mình – anh nghĩ anh đã thấy ai đó, đi điều tra, và bằng cách nào đó mấy cái đinh nằm ở đó. Còn cái camera ư? Đừng hỏi anh. Anh chẳng có một ý tưởng nào về việc tại sao ban đầu nó ở trong chiếc xe tuần tra.
Không tuyệt lắm, anh biết, nhưng đủ tốt.
“Trông như thể một cú liên hoàn của con dao phay ấy,” cha anh nói, cúi người xuống, kiểm tra lốp xe.
“Con đã bảo cha là mấy cái đinh mà.”
“Chả có công trường xây dựng nào ở đây hết.”
“Con cũng không biết làm sao nó xảy ra nữa! Con chỉ đang nói với cha điều gì đã xảy ra thôi.”
“Chứ rốt cuộc thì nó ở đâu ra?”
“Làm thế quái nào con biết được? Con cán qua chúng trong rừng mà.”
Lão già không tin, nhưng Clayton biết cách lấp liếm câu chuyện của anh. Luôn thế. Đó là khi bạn bắt đầu rút lui khi người ta bí. Câu hỏi 101.
Cuối cùng khi lão già rời đi, Clayton rãnh rỗi mà lái xe đến gara, chỗ người ta vá mấy cái lốp lúc đầu. Sau một vài giờ, đến khi anh quên khuấy buổi triệu tập Ngài Logan Thight-bolt. Không một ai, và sẽ không một ai, dám lục lọi đồ đạc của Keith Clayton, đặc biệt càng không phải một tên hippy lang bạt nghĩ dễ dàng qua mặt anh.
Anh dành phần còn lại của buổi chiều để lái xe trên mấy con đường của Arden, hỏi xem có ai thấy hắn ta không. Cậu ấm tất nhiên chẳng thể bỏ qua dù cho thần Cujo có đứng về phe hắn. Cuộc tìm kiếm của anh thu hoạch được mấy thứ bèo bọt, điều này chỉ tổ làm anh tức điên hơn, vì anh nhận ra nó có nghĩa là Thigh-bolt đã giỡn mặt anh và Clayton chỉ có thể cho qua mà thôi.
Anh sẽ tìm được gã. Không nghi ngờ là anh sẽ tìm được gã, nội chỉ vì cái camera thôi. Hoặc là, chính xác hơn, vì mấy bức ảnh. Đặc biệt là mấy bức ảnh ngoài luồng. Điều cuối cùng anh muốn là Thigh-bolt dung dăng dung dẻ đi vào văn phòng cảnh sát trưởng và thả bé cưng ở quầy nộp phạt – hoặc tệ hơn là tới thẳng báo chí. Trong hai cái, thì văn phòng cảnh sát coi bộ là án tử nhẹ nhàng hơn, vì cha anh có thể nhắm mắt làm ngơ. Lúc cha giơ cao đánh khẽ và hầu như nhét vào tai anh mấy chi tiết như cứt trong mấy tuần tới, anh sẽ giữ im lặng. Anh chả giỏi gì, nhưng mấy thứ kiểu này anh làm khá tốt.
Nhưng nhà báo…thì lại là chuyện khác. Chắc chắn, Gramps sẽ giật dây và cố hết sức bịt miệng đám nhà báo, nhưng mà loại thông tin kiểu ấy chả có cách nào kìm hãm được. Nó sẽ đặc sắc lắm cho coi, rồi mấy tin tức sẽ thổi bùng ngọn lửa khắp thị trấn, dù là tin thiệt hay tin đồn thất thiệt. Clay-ton hẳn nhiên được xem là đứa phá gia chi tử, và điều cuối cùng anh cần là một lý do khác để Gramps xỉ vả anh. Gramps có thói quen day đi day lại mãi một sai lầm. Thậm chí đến giờ, sau nhiều năm, Gramps vẫn đập anh vì cuộc ly hôn của anh với Beth, dẫu rằng thậm chí chả phải lỗi của anh. Và lúc tụ tập gia đình, mọi người thường hy vọng anh có thể làm gì đó thay đổi sự thật (be counted on to bring up the fact) rằng Clayton không học đại học. Với điểm số của mình, Clayton dễ dàng nộp đơn vào đại học, nhưng anh chỉ là không thể tưởng tượng dùng bốn năm trong mấy cái lớp học, thế nên vào sở cảnh sát với cha luôn. Điều đó đủ xoa dịu Gramps. Dường như anh dành cả nửa cuộc đời mình để xoa dịu Gramps.
Nhưng trong rắc rối này anh không có lựa chọn. Dù anh không đặc biệt thích Gramps – Gramps là một Baptist (nhà truyền đạo làm lễ rửa tội trong đạo Tin Lành) ngoan đạo phía Nam này, đến nhà thờ mỗi Chủ nhật và nghĩ rằng nhậu nhẹt với nhảy múa là tội ác, điều luôn đập tỉnh Clayton, lố bịch thay – anh biết Gramps kỳ vọng gì ở anh, và chỉ đơn giản rằng việc chụp ảnh khỏa thân mấy cô nữ sinh không nằm trong danh sách “được làm”. Nói chi đến một vài bức ảnh khác trong cái đĩa, đặc biệt là ảnh của anh với một ít quý cô ở những vị trí gây tai tiếng. Mấy loại việc này chính xác sẽ dẫn đến một sự thất vọng nặng nề, và Gramps thì chẳng mấy kiên nhẫn với những ai làm ông thất vọng, thậm chí là người trong nhà. Đặc biệt là người trong nhà. Clayton đã sống ở hạt Hampton từ năm 1753; theo nhiều kiểu thì họ chính là Hampton thu nhỏ. Các thành viên trong gia đình gồm quan tòa, luật sư, bác sĩ, và địa chủ; thậm chí thị trưởng khi kết hôn cũng gia nhập gia tộc, nhưng mọi người đều biết Gramps là trưởng tộc. Gramps đặt ra luật lệ như dòng dõi quý tộc Mafia xưa cũ, và hầu hết mọi người trong trấn hát theo những lời cầu nguyện của ông và truyền tụng về phẩm chất con người ông. Gramps thích tin rằng đó là do ông nâng đỡ đức tin cho mọi thứ từ thư viện đến rạp hát rồi trường cấp hai của hạt, nhưng Clayton biết lý do thật sự là bởi vì Gramps sở hữu nhiều tòa thương mại trong khu kinh doanh buôn bán., cũng như xưởng gỗ, cả hai bến tàu, ba chiếc tàu buôn tự động, ba khu dự trữ máy móc liên hợp, tòa chung cư duy nhất trong thị trấn, và những vùng trang trại bát ngát. Tất cả tạo nên một gia tộc – với tài sản đồ sộ - và đầy quyền lực, và kể từ khi Clayton được hưởng khoản tín dụng gia đình cho túi tiền của mình, điều cuối cùng anh cần là vài kẻ lạ mặt trong thị trấn gây khó dễ cho anh.
Tạ ơn Chúa đã mang Ben đến cho anh trong khoảng thời gian ngắn ngủi anh sống cùng Beth. Gramps có những thứ kì dị về gia phả, và kể từ khi Ben được đặt theo tên Gramps – một ý tưởng cực kỳ bồng bột, nếu ông có thể nói thế về mình – Gramps còn hơn cả yêu thích Ben. Hầu hết thời gian, Clayton có cảm giác rằng Gramps thích Ben, cháu cố, còn nhiều hơn rất nhiều nếu so với cháu trai của ông.
Ồ, Clayton biết Ben là một đứa trẻ ngoan. Không chỉ Gramps – mà mọi người đều nói thế. Và anh thực yêu nó, thậm chí dù thỉnh thoảng anh cố gắng che dấu điều đó. Từ chỗ đứng trước mái hiên, anh nhìn qua cửa sổ và thấy Ben đã xong với cái bếp và đang ngả lưng trên sô-fa. Anh biết anh nên vào trong với nó, nhưng anh vẫn chưa sẵn sàng. Anh không muốn bỗng nhiên nổi giận hoặc nói điều gì đó sẽ khiến mình hối tiếc. Anh đã xoay xở làm sao cho mấy thứ kiểu này tốt hơn; trở về sau một vài tháng, Gramps đã có một cuộc nói chuyện nho nhỏ với anh về tầm quan trọng của một ảnh hưởng ổn định. Điên đầu. Những gì anh nên làm là bảo với Ben làm theo những gì cha bảo khi anh hỏi. Sẽ làm tốt hơn. Thằng nhóc luôn quay khỏi anh tối nay, nhưng thay vì tức giận, anh nhớ đến Gramps và ngậm họng hậm hực ra ngoài.
Dường như anh luôn luôn tránh mặt Ben mấy ngày này. Nhưng đó không phải lỗi của anh, anh thật tâm cố gắng hòa hợp với thằng nhóc! Và họ đã bắt đầu tốt hơn. Trò chuyện về trường lớp, làm mấy cái burger, xem thể thao trên kênh ESPN. Tất cả đều tốt. Nhưng giờ, với sự tôn kính với mấy con ma men, anh yêu cầu Ben lau bếp. Đó là một yêu cầu không quá đáng chứ, nhỉ? Clayton đã không có mấy dịp để lau bếp mấy ngày gần đây, và anh biết thằng nhóc sẽ làm tốt. Thế là Ben hứa nó sẽ lau bếp, nhưng thay vì làm gì đó, nó chỉ ngồi đó. Rồi ngồi. Đồng hồ điểm. Và nó vẫn ngồi.
Thế nên Clayton hỏi lại – anh nhủ mình sẽ nói một cách nhẹ nhàng – và dù anh không chắc chắn, nhưng khẳng định anh đã thấy Ben đảo mắt khi cuối cùng anh phải lết xác vào bếp. Đó là cách nó diễn ra. Anh ghét Ben đảo mắt với anh, và Ben cũng biết anh ghét điều đó. KIểu như một đứa bé sẽ biết chính xác phải nhấn nút nào, và nó dành hết thời gian rỗi để tìm ra những nút mới đem ra dùng trong lần kế tiếp gặp anh. Thế là, Clayton thấy bản thân mình đang đứng ngoài mái hiên.
Cư xử như những gì mẹ anh đã làm, Clayton chả cần nghi ngờ gì nữa. Bà là một quý bà ưa nhìn kinh khủng, nhưng bà không biết điều tiên quyết biến một câu bé thành một người đàn ông. Anh chả nghi ngờ gì là đứa trẻ sẽ giành được những điểm số tốt, nhưng nó không thể chơi đá banh năm nay vì nó muốn chơi đàn violin? Loại rác rưởi gì chứ? Violin? Có lẽ cũng tốt ngang với việc phủ màu hồng lên người thằng bé và dạy nó cưỡi ngựa 1 bên. Clayton cố hết sức giữ mấy loại ẻo lả này trong vòng kiểm soát, nhưng sự thật là, anh chỉ giữ thằng bé một ngày và xen kẽ mỗi cuối tuần. Không phải lỗi của anh làm thằng bé đu đưa cây gậy đánh bóng như một đứa con gái. Thằng nhóc quá bận để có thể chơi cờ. Và thế là mọi người đều rõ ràng, chả có cách nào trên hành tinh xanh này của Chúa bắt anh thoát khỏi cái chết trong một buổi hòa nhạc violin cuả thằng bé.
Hòa nhạc violin. Chúa nhân từ. Thế giới này đang đi về đâu vậy?
Suy nghĩ của anh quay ngược về Thigh-bolt lần nữa, và dù anh muốn tin gã đàn ông đó đơn giản đã rời khỏi hạt, anh biết hơn thế. Gã đang đi, và không có con đường nào mà hắn có thể đi xa khỏi biên giới hạt khi trời đã sụp tối. Còn gì nữa? Có vài thứ cứ quanh quẩn trong đầu anh cả ngày, và mãi đến khi anh hạ hỏa lúc đứng dưới mái hiên thì anh mới nhận ra nó. Nếu Thigh-bolt nói thật rằng hắn ở Colorado – và nhận trợ cấp, hắn có lẽ không ở lại đây, nhưng nếu hắn ở - nó có nghĩa là hắn đang đi từ Tây sang Đông. Và thị trấn phía đông kế tiếp là? Không phải Arden. Nơi họ gặp nhau là ở hướng tây nam. Vây là, hướng chính đông sẽ mang gã tới Hampton cổ kính. Chính nó, quê hương anh. Nghĩa là, tất nhiên, gã có lẽ mất không tới mười lăm phút đi từ nơi anh đang ngồi.
Nhưng Clayton thuộc về nơi nào chứ? Ngoài việc tìm kiếm gã đàn ông đó? Không, anh là một bà vú giữ trẻ.
Anh liếc mắt qua cửa sổ lần nữa nhìn con trai. Nó đang đọc sách trên ghế bành, điều duy nhất thằng nhóc dường như muốn làm. Ồ, trừ đàn violin. Anh lắc đầu, tự hỏi rằng thằng nhóc có mang chút gen nào của anh không. Chả giống. Nó hoàn toàn là con trai của mẹ nó. Con của Beth.
__________________
uninthichankem@gmail...<= đóng góp công sức cho dự án ebook
thichankem vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
123451212 (26-08-2012)

Trả lời

Bookmarks

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ GMT. Giờ hiện tại là 06:47 PM.



vBulletin Optimisation by vB Optimise.