Welcome, Khách Viếng Thăm.

Nếu đây là lần đầu bạn ghé thăm diễn đàn, xin mời bạn xem phần Hướng dẫn đọc và xem eBook. Hoặc bạn cũng có thể ghi danh để theo dõi và tham gia thảo luận cùng chúng tôi.

Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh Cho phép nhiều nhóm cùng dịch 1 tác phẩm để học hỏi kinh nghiệm dịch thuật...

Trả lời
Old 25-07-2012, 10:14 PM   #11
lanhleo1
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2010
Bài gởi: 31
Xin cảm ơn: 1
Thanked 9 Times in 1 Post
Default

Vài tuần lễ sau chuyến xe trượt tuyết, chúng tôi không nghe nói về nhà Shimerdas. Cái họng sưng khiến tôi phải ở trong nhà và bà nội lại bị cảm lạnh khiến việc nhà trở nên nặng nề đối với bà. Đến chủ nhật, bà rất mừng vì được nghỉ ngơi. Một tối vào bữa ăn, Fuchs kể với chúng tôi là đã gặp ông Shimerda đi săn.
“Ông ấy tự làm cho mình một cái mũ da thỏ và một cái cổ áo bằng da thỏ bắt khuy bên ngoài áo khoác. Họ chỉ có chung 1 cái áo và thay phiên nhau mặc. Họ sợ lạnh khiếp lên được và cứ ở lì trong cái hóc đó như lũ chồn.”
“Tất cả bọn họ, trừ cái thằng bé điên khùng” Jake chêm vào. “Nó chẳng bao giờ mặc áo khoác. Krajiek nói nó khỏe kinh khủng và có thể chịu đựng được mọi thứ. Tôi đoán là lũ thỏ đã trở nên hiếm trong khu vực đó rồi. Hôm qua Ambrosch ra ruộng ngô khi tôi đang làm việc và khoe ba con chồn đồng nó vừa bắn được. Nó hỏi tôi là ăn có ngon không. Tôi khạc nhổ và làm mặt dọa nó nhưng trông nó ra vẻ như thông minh hơn tôi và cất chúng vào trong bao tải rồi đi mất”
Bà nội hoảng hốt ngước lên và nói với ông nội :”Josiah, anh không cho là Krajiek để cho những người tội nghiệp ấy ăn thịt chồn chứ?”
“Có lẽ ngày mai em nên đến thăm hàng xóm nhà ta Emmaline ạ” ông buồn bã trả lời.
Fuchs vui vẻ nói lũ chồn cũng sạch sẽ và chắc là ngon miệng, nhưng mối quan hệ gia đình của chúng lại phản đối điều này. Tôi hỏi ý ông là gì, và ông nhe răng ra cười nói chúng thuộc họ nhà chuột.
Vào buổi sáng, khi tôi xuống nhà đã thấy bà nội và Jake đang gói ghém một cái giỏ mây trong bếp
“Jake,” bà nội đang nói “giờ thì nếu cậu có thể tìm thấy con gà trống già có cái mào đã đông cứng lại thì chỉ cần vặn cổ nó 1 cái rồi mang nó theo. Chẳng có lí do gì mà bà Shimerda lại không thể mua gà mái của hàng xóm từ mùa thu và giờ đã có một chuồng gà. Tôi ngờ là bà ấy đang phân vân và không biết phải bắt đầu từ đâu. Bản thân tôi khi mới đến đây cũng thấy rất lạ lẫm nhưng tôi không bao giờ quên là người ta nên có gà má bất kể người ta không có thứ gì đi nữa”
“Theo ý bà.” Jake nói “nhưng tôi ghét khi nghĩ là Krajiek có thể gặm cái đùi của con gà trống già đó.” Anh ta nặng nề bước ra ngoài hành lang và đóng sầm cánh cửa sau lưng.
Sau bữa sáng bà nội và Jake cùng tôi nai nịt gọn gàng và trèo lên ghế trước của chiếc xe ngựa. Khi đến gần nhà Shimerda, chúng tôi nghe thấy tiếng bơm nước kẽo kẹt nỉ non và rồi nhìn thấy Antonia, tóc búi ngược, chiếc váy vải bay phấp phới quanh người, đang đu mình lên cái tay cầm của chiếc bơm khi nó nâng lên hạ xuống. Cô nghe thấy tiếng xe ngựa, nhìn lại qua vai và nhặt cái thùng đựng nước lên chạy về phía cái hốc bên bờ mương.

Jake giúp bà nội xuống đất và nói sẽ mang hết đồ vào sau khi trùm chăn cho lũ ngựa. Chúng tôi đi chậm rãi trên con đường đầy băng hướng về phía cái cửa lún sâu dưới bờ mương. Từng cuộn khói màu xanh tuôn ra từ cái ống lò nhô ra khỏi đám cỏ và tuyết nhưng cơn gió nhanh chóng thổi chúng tản đi mất.
Bà Shimerda mở cửa trước khi chúng tôi kịp gõ và túm lấy tay bà nội. Bà ta không nói “Xin chào” như thường lệ mà ngay lập tức khóc òa lên, nói rất nhanh bằng tiếng của mình, chỉ vào đôi chân quấn đầy giẻ rách và nhìn quanh với vẻ buộc tội tất cả mọi người.
Ông già đang ngồi trên một cái gốc cây đằng sau bếp lò thu mình lại như thể muốn trốn chúng tôi. Yulka đang ngồi bên chân ông trên sàn nhà, con mèo con nằm trên đùi cô bé. Cô nhòm ra phía tôi và nhoẻn cười nhưng khi liếc nhìn lên mẹ, cô lại trốn đi mất. Antonia đang rửa chảo và bát đĩa trong một góc tối om. Thằng bé điên nằm rãi ra bên dưới khung cửa sổ duy nhất trên một cái bao bằng vải đay chứa cỏ khô. Ngay khi chúng tôi vào nhà, nó ném một cái bao vào vết nứt dưới cửa. Bầu không khí trong nhà rất ngột ngạt và tối om. Một cái đèn thắp sáng treo bên trên lò hắt ra một thứ ánh sáng vàng nhập nhoạng.
Bà Shimerda giật tung nắp của hai chiếc thùng đằng sau cánh cửa ra và bảo chúng tôi nhìn vào trong. Trong một thùng là một ít khoai tây đã đóng băng và đang thối, thùng kia có một nắm bột. Bà nội lẩm bẩm gì đó có vẻ rất xấu hổ nhưng người đàn bà Bohemia cười đầy miệt thị, kiểu cười như ngựa hí lên, và túm lấy một cái bình pha café rỗng trên giá mà lắc nó với chúng tôi với một vẻ hằn học.
Bà nội tiếp tục lịch sự nói chuyện với bà ta theo kiểu Virginia mà không ra vẻ là nhận thấy những nhu cầu khẩn thiết của họ cũng như sự chểnh mảng của mình cho đến khi Jake vào tới nơi cùng với cái giỏ như thể là câu trả lời trực tiếp cho những lời trách móc của bà Shimerda. Người đàn bà tội nghiệp suy sụp. Bà ta ngồi thụp xuống sàn nhà bên cạnh đứa con trai điên khùng, giấu mặt vào đầu gối và khóc cay đắng. Bà nội không để ý đến bà ta mà gọi Antonia giúp trút đồ ra khỏi giỏ. Tony miễn cưỡng rời khỏi cái góc của mình. Tôi chưa bao giờ thấy cô ấy nhàu nhĩ đến thế.
“Bà đừng để ý đến bà mẹ tội nghiệp của cháu, bà Burden ạ. Bà ấy buồn quá ấy mà” cô thì thầm khi chùi đôi tay ướt vào váy và cầm lấy những thứ bà đưa cô.
Thằng bé điên nhìn thấy thức ăn bắt đầu kêu lên những tiếng òng ọc và xoa bụng. Jake lại đi vào, lần này cầm theo một túi khoai tây. Bà nội bối rối nhìn quanh.
“Nhà cháu không có hầm hay hành lang bên ngoài nào à, Antonia? Đây không phải là chỗ chứa rau củ. Làm sao mà khoai tây lại đóng băng được?”
“Chúng cháu nhặt những gì ông Bushy ở bưu điện ném đi. Chúng cháu không có khoai tây bà Burden ạ” Tony rầu rĩ thú nhận.
Khi Jake ra ngoài, Marek bò trên sàn nhà và lại lấp khe cửa nứt lại. Sau đó, lặng lẽ như một cái bóng, ông Shimerda bước ra từ đằng sau cái lò. Ông đứng đó dùng tay chải mớ tóc xám mềm mại của mình như thể ông đang cố gắng rũ bỏ màn sương mù ra khỏi đầu. Ông vẫn sạch sẽ và gọn gàng như thường với cái khăn cổ màu xanh lá và chiếc ghim cài bằng đồng. Ông cầm tay bà nội và dẫn bà tới sau cái lò ở cuối căn phòng. Trong bức tường đằng sau là một cái hang khác nhỏ hơn, một cái lỗ tròn không lớn hơn thùng dầu hỏa bao nhiêu được đào sâu vào trong đất đen. Khi tôi đứng lên trên một trong những cái ghế đẩu và nhòm vào trong, tôi nhìn thấy ít chăn và một đống cỏ khô. Ông già giơ cao chiếc đèn “Yulka,” ông nói bằng một giọng trầm và tuyệt vọng “Yulka; Antonia của tôi”
Bà nội lùi lại “Ý ông là chúng ngủ ở đây, mấy đứa con gái của ông?” Ông cúi đầu.
Tony chuồi vào vòng tay ông :”Ở dưới sàn nhà rất lạnh mà trong này lại ấm như trong hang chồn. Cháu thích ngủ ở đây.” Cô khăng khăng nói “Mẹ cháu có giường ấm mà, gối nhồi lông ngỗng mang từ Bohemie sang. Nhìn này, Jim?” Cô chỉ vào chiếc giường hẹp mà Krajiek đã gắn vào tường cho mình trước khi nhà Shimerda đến.
Bà nội thở dài:”Chắc rồi, cháu còn có thể ngủ ở đâu được nữa, cháu yêu! Ta không hề ngờ rằng cháu cảm thấy ấm áp trong đó. Sau này cháu sẽ có một ngôi nhà tử tế hơn Antonia ạ, và sẽ quên đi quãng thời gian khó khăn này”
Ông Shimerda mời bà nội ngồi trên chiếc ghế duy nhất và chỉ cho vợ ngồi trên chiếc ghế đẩu bên cạnh. Đứng trước mặt họ, tay đặt trên vai Antonia, ông trầm giọng nói, con gái ông dịch lại. Ông muốn chúng tôi biết rằng khi còn ở nước nhà, họ không phải là những kẻ ăn mày, ông kiếm được nhiều tiền và gia đình họ được trọng vọng. Ông rời khỏi Bohemia với hơn 1000 đô la tiền tiết kiệm sau khi đã trả tiền đi lại. Ông mất một ít khi đổi tiền ở New York và vé tàu đến Nebraska đắt hơn họ dự tính. Đến lúc trả tiền đất cho Krajiek và mua thêm ngựa, bò và vài thứ đồ làm ruộng cũ, học còn lại rất ít tiền. Tuy nhiên, ông mong bà ngoại biết là ông vẫn còn chút tiền. Nếu họ có thể cầm cự được đến mùa xuân, họ có thể mua một con bò cái, ít gà con và trồng vườn và mọi sự sẽ khá hơn. Ambrosch và Antonia đã đủ lớn để làm việc trên đồng và chúng rất sẵn lòng làm việc. Nhưng tuyết và thời tiết khắc nghiệt đã làm tất cả bọn họ nản chí.
Antonia giải thích là cha cô đã định xây cho họ một ngôi nhà mới khi xuân tới, ông và Ambrosch đã xẻ gỗ nhưng tất cả đống gỗ đều đang bị vùi dưới tuyết dọc theo cái khe mà từ đó chúng bị đốn hạ.
Trong khi bà nội khuyến khích và khuyên nhủ họ, tôi ngồi xuống sàn nhà bên cạnh Yulka và hỏi cô cho tôi xem con mèo. Marek thận trọng trườn tới chỗ chúng tôi và bắt đầu giơ ra những ngón tay dính màng. Tôi biết nó muốn khoe những tiếng động kỳ quặc với tôi – như sủa như chó hoặc hí lên như ngựa – nhưng nó không dám làm thế trước mặt bố mẹ. Marek luôn cố gắng để có thể được chấp nhận, thằng bé tội nghiệp, như thể nó tự nhủ rằng nó phải luôn cố gắng để bù đắp cho sự yếu kém của mình.
Bà Shimerda trở nên bình tĩnh và biết điều hơn trước khi chuyến viếng thăm của chúng tôi kết thúc và thỉnh thoảng lại chêm vào một hai câu trong khi Antonia dịch lại. Bà ta nắm bắt rất nhanh và ngắt lời mỗi khi nghe thấy tiếng Anh. Khi chúng tôi đứng dậy để ra về, bà mở cái rương gỗ và mang ra một cái túi làm bằng vải bọc gối dài bằng bao bột và rộng bằng nửa thế chứa đầy một thứ gì đó. Khi nhìn thấy nó, thằng bé điên bắt đầu chép môi. Khi bà Shimerda mở cái túi và đổ ra tay những gì chứa ở trong có mùi muối và đất rất hăng thậm chí giữa đám hỗn độn các thứ mùi có trong hang. Bà ta đổ đầy một cái tách đựng trà những thứ đó, buộc chặt chúng lại trong một cái túi vải và trịnh trọng đưa cho bà nội
“Để nấu” bà tuyên bố “Giờ thì ít, khi nấu sẽ rất nhiều” khoa tay lên như thể ám chỉ rằng nửa lít sẽ nở ra thành 1 gallon (3,48l) “Rất ngon. Bà không có ở đây. Mọi thứ để ăn ngon hơn ở nước tôi”
“Có thể thế, bà Shimerda ạ” bà nội lạnh nhạt nói “Tôi không biết nhưng bản thân tôi thích bánh mỳ của tôi hơn của bà”
Antonia nhận nhiệm vụ dịch lại :”Món này rất ngon bà Burden ạ” – cô vỗ tay như thể không biết làm sao để diễn tả ngon đến thế nào – “nó sẽ nở ra rất nhiều khi bà nấu như mẹ cháu nói. Nấu với thỏ, nấu với gà, trong nước sốt – ôi ngon lắm”
Trên đường về nhà bà nội và Jake nói với nhau làm sao những người Thiên chúa giáo tốt bụng có thể dễ dàng quên rằng họ là người bảo hộ cho những người anh em của mình.
“Jake ạ, tôi sẽ cho rằng một số người anh hay chị em của ta rất khó để bảo hộ. Chúng ta biết làm thế nào với những người này? Cái gì họ cũng thiếu mà nhất là sự biết điều. Không ai có thể cho họ điều đó, tôi nghĩ vậy. Ngay như Jimmy đây cũng có thể chăm nom nhà cửa như họ. Cậu có thấy thằng bé Ambrosch có chút động cơ nào không?”
“Nó là một người lao động, tốt thôi bà ạ, và nó có chút khéo léo, nhưng nó là người rất ích kỷ. Ai cũng phải ích kỷ một chút mới sống được ở đời, nhưng rồi người ta cũng có thể quá ích kỷ”
Đêm đó khi bà nội đang nấu bữa tối, chúng tôi mở cái gói mà bà Shimerda đã tặng cho bà. Nó đầy những lát nhỏ màu nâu trông như rễ cây. Chúng nhẹ như lông và điều đáng chú ý nhất là thứ mùi sâu sắc như đất. Chúng tôi không thể phân biệt được đây là thịt hay rau.
“Có thể đây là thịt khô của một loại quái vật kỳ lạ Jim ạ. Chúng không phải cá khô, và cũng không có cành hay dây. Bà sợ. Hơn nữa, bà cũng chẳng muốn ăn bất kỳ thứ gì bị buộc chặt trong quần áo cũ với gối lông ngỗng hàng tháng trời”
Bà ném cái gói vào trong bếp lò nhưng tôi đã kịp cắn một góc của miếng mà tôi cầm trong tay rồi nhai chầm chậm. Tôi sẽ không bao giờ có thể quên được mùi vị lạ lùng đó, mặc dù phải rất nhiều năm sau tôi mới biết được những lát vỏ nhỏ bé màu nâu mà nhà Shimerda đã đem đến từ xa và gìn giữ một cách cẩn trọng đến thế chính là nấm khô. Chắc chúng đã được hái từ những cánh rừng Bohemia sâu thẳm.
lanhleo1 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2012, 10:15 PM   #12
lanhleo1
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2010
Bài gởi: 31
Xin cảm ơn: 1
Thanked 9 Times in 1 Post
Default

XI
Suốt tuần lễ trước Giáng sinh, Jake là nhân vật quan trọng nhất trong nhà vì ông phải xuống thị trấn và mua sắm cho Giáng sinh hộ chúng tôi. Nhưng vào ngày 21/12, tuyết bắt đầu rơi. Những bông tuyết rơi dày đến nỗi từ cửa sổ phòng khách tôi không thể nhìn thấy cối xay gió – bóng hình của nó mờ ảo và u ám, nhạt nhòa như một cái bóng. Cả ngày tuyết không ngừng rơi cho đến suốt đêm đó. Cái lạnh không quá ghê gớm nhưng cơn bão thì im tiếng và không thể cưỡng lại nổi. Những người đàn ông không thể đi quá dãy chuồng ngựa và bãi thả gia súc. Phần lớn thời gian họ ở trong nhà như ngày chủ nhật, đánh bóng những đôi ủng, sửa chữa những chiếc đai quần và bện lại dây roi.
Vào sáng ngày 22, khi ăn sáng ông nội thông báo là sẽ không thể tới Black Hawk mua đồ cho Giáng sinh. Jake chắc chắn là có thể cưỡi ngựa đến đó và mang đồ về bằng túi treo yên ngựa nhưng ông bảo đường có thể bị chặn và một người mới đến như anh sẽ dễ bị lạc gấp mười lần. Dù sao đi nữa ông cũng sẽ không cho phép bất kỳ con ngựa nào của mình phải chịu đựng như vậy.
Chúng tôi quyết định đón một lễ giáng sinh theo kiểu nông thôn mà hoàn toàn không cần sự trợ giúp từ thị trấn. Tôi đã mong sẽ có một vài quyển truyện tranh làm quà cho Yulka và Antonia; đến Yulka giờ cũng đã có thể đọc được đôi chút. Bà nội dẫn tôi vào trong kho lạnh nơi bà chứa vài súc vải kẻ ô và ga giường. Bà cắt những miếng vải thành hình vuông và chúng tôi cùng khâu chúng lại thành một quyển sách. Chúng tôi đóng lại bằng bìa cứng, bọc bằng miếng vải trúc bâu tuyệt đẹp miêu tả các cảnh trong một rạp xiếc. Chúng tôi có một tập những tạp chí cũ của gia đình có bản in màu của những bức tranh nổi tiếng và tôi được dùng một vài tấm trong đó. Tôi chọn bức “Napoleon tuyên bố li dị Josephine” làm trang đầu. Trong những trang giấy trắng tôi xếp những tấm thiệp của trường ngày chủ nhật và thiệp quảng cáo mang đến từ ‘quê cũ’ lại với nhau. Fuchs lôi những cái khuôn làm nến cũ ra và làm những cây nến bằng mỡ. Bà nội thì lục tìm những cái khuôn cắt bánh và nướng những chiếc bánh gừng hình người và hình gà trống, trên đó chúng tôi trang trí bằng đường cháy và những giọt quế màu đỏ.
Vào ngày trước lễ giáng sinh, Jake đóng gói tất cả mọi thứ mà chúng tôi gửi tặng nhà Shimerda vào những chiếc túi yên và lên đường trên con ngựa thiến màu xám của ông nội. Khi anh ta leo lên ngựa trước cửa, tôi thấy anh có một cái rìu nhỏ buộc ở thắt lưng và anh trao cho bà nội một cái nhìn đầy ý nghĩa khiến tôi tin rằng anh đang có một sự bất ngờ dành cho tôi. Chiều hôm đó, tôi háo hức chờ dài cổ từ khung cửa sổ phòng khách. Cuối cùng tôi nhìn thấy một cái chấm sẫm màu di chuyển ở sườn đồi phía tây bên cánh đồng ngô đã bị vùi lấp một nửa, nơi đó bầu trời đang ánh lên màu đồng hắt lên từ mặt trời chưa ló dạng. Tôi đội mũ và chạy ra ngoài gặp Jake. Khi đi tới cái đầm, tôi có thể thấy anh đang vác một cây tuyết tùng nhỏ vắt ngang quả táo yên ngựa. Anh thường giúp cha tôi đi chặt cây giáng sinh cho tôi khi còn ở Virginia và anh đã không quên tôi thích chúng đến nhường nào.
Khi chúng tôi đã có thể đặt cái cây nhỏ lạnh cóng và còn thơm mới vào góc phòng khách thì cũng đã sắp đến đêm Giáng sinh. Sau bữa tối chúng tôi cùng tập hợp lại, thậm chí cả ông nội đang đọc báo bên bàn cũng thỉnh thoảng ngước nhìn lên với vẻ thích thú. Cây tuyết tùng cao khoảng 5 feet và rất có dáng. Chúng tôi treo lên đó những chiếc bánh gừng hình thú, hàng dây bỏng ngô và những mẩu nến mà Fuchs đã gắn vào những cái chân bằng giấy bồi. Tuy nhiên vẻ tráng lệ của nó lại bắt nguồn từ nơi không thể nhất trên thế gian này – chính là cái rương cao bồi của Otto. Trong cái rương đó tôi chưa từng nhìn thì thấy gì khác ngòai những đôi bốt cũ, cựa giày và súng ngắn cũng với một đống kỳ khôi những dây roi da màu vàng, vỏ đạn và xi đánh giày. Từ dưới lớp lót ông lôi ra một tràng những hình đẹp tuyệt bằng giấy màu cao vài inch và đủ cứng để có thể tự đứng. Người mẹ già của ông từ Áo đã gửi chúng cho ông từ rất nhiều năm trước. Có một trái tim đang rỉ máu làm từ một búi đăng ten giấy, có cả 3 vị vua trang sức chói lọi, một con bò, con lừa và những người chăn cừu; có cả em bé trong máng cỏ, một đám thiên thần đang hát, có cả lạc đà và báo đốm do nô lệ của ba vua giắt dây. Cái cây của chúng tôi trở thành cái cây biết nói đang kể truyện cổ tích; những truyền thuyết và câu chuyện nép mình như những con chim đậu trên cành. Bà nội nói nó gợi nhắc cho bà về cái Cây Tri thức. Chúng tôi xếp những tảng bông bên dưới để làm cánh đồng tuyết va dùng cái gương bỏ túi của Jake để làm cái hồ bị đóng băng.
Giờ đây tôi vẫn có thể như nhìn thấy họ đúng y như lúc đó, làm việc quây quần bên chiếc bàn dưới ánh đèn: Jake với dáng người nặng nề, thô kệch đến mức khuôn mặt của anh ta tưởng chừng như chưa được hoàn thiện; Otto với nửa cái tai còn lại và vết sẹo dữ tợn làm cho môi dưới cong lên một cách tàn bạo dưới hàng ria uốn cong. Đúng như tôi vẫn thường nhớ về họ, những khuôn mặt của họ mới không được che đậy làm sao , sự thô ráp và bạo lực làm cho chúng trở nên không có khả năng tự vệ. Những người đàn ông này chẳng có chút kỹ năng nào để họ có thể ẩn sau đó và giữ khoảng cách với mọi người. Họ chỉ có những nắm đấm cứng rắn để chống chọi lại với cả thế giới. Otto chính là một trong những người lao động từng trải lang bạt khắp nơi không bao giờ kết hôn và có con. Vậy mà ông ấy lại rất yêu trẻ con!
lanhleo1 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2012, 10:16 PM   #13
lanhleo1
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2010
Bài gởi: 31
Xin cảm ơn: 1
Thanked 9 Times in 1 Post
Default

XII
Vào buổi sáng Giáng sinh, khi tôi xuống bếp, những người đàn ông vừa trở về sau khi làm xong việc buổi sáng – lũ ngựa và lợn luôn được ăn sáng trước chúng tôi. Jake và Otto kêu toáng lên “Giáng sinh vui vẻ!” với tôi và nháy mắt với nhau khi nhìn thấy chảo rán bánh quế trên bếp lò. Ông nội xuống nhà, mặc một chiếc sơ mi trắng và chiếc áo khoác ngày chủ nhật. Lễ cầu nguyện buổi sáng kéo dài hơn bình thường. Ông đọc các chương từ Thánh Matthew về sự ra đời của Chúa và khi chúng tôi lắng nghe, điều đó như thể vừa mới xảy ra rất gần. Trong lời cầu nguyện của mình, ông tạ ơn Chúa vì lễ giáng sinh đầu tiên và vì tất cả những gì mà nó đang đến cho thế giới này kể từ lúc đó. Ông tạ ơn vì có thức ăn và sự an ủi cho chúng tôi, và cầu nguyện cho những người nghèo đói và cơ cực ở các thành phố lớn nơi sự chống chọi với cuộc sống gặp nhiều khó khăn hơn so với chúng tôi. Những lời cầu nguyện của ông đều rất thú vị. Ông có biệt tài thể hiện mọi việc một cách đơn giản mà xúc động. Vì ông rất kiệm lời nên những điều ông nói đều có một sức mạnh lạ thường; chúng không hề bị xói mòn vì được dùng thường xuyên. Những lời cầu nguyện của ông biểu lộ những gì ông nghĩ lúc đó và phần lớn là qua đó mà chúng tôi có thể nhận biết được cảm nghĩ và quan niệm của ông về mọi sự.
Sau khi ngồi xuống ăn bánh quế và xúc xích, Jake kể với chúng tôi nhà Shimerda đã vui mừng với những món đến thế nào; thậm chí Ambrosch cũng tỏ ra thân thiện và đi cùng anh tới hẻm núi để cưa cái cây. Bên ngoài trời xám nhẹ với những đám mây nặng trĩu vắt ngang bầu trời với những cơn mưa tuyết thỉnh thoảng rơi xuống. Luôn có những việc kỳ cục liên quan đến chuồng ngựa cần phải làm vào ngày lễ và tất cả những người đàn ông bận bịu cho đến tận chiều. Sau đó Jake và tôi chơi dominoes trong Otto viết cho mẹ một bức thư dài. Ông thường viết cho mẹ vào ngày Giáng sinh, ông nói, bất kể ông đang ở đâu và bất kể lá thư trước đó được gửi từ bao lâu. Cả buổi chiều ông ngồi ở phòng ăn. Ông sẽ viết một lúc, và ngồi đó lặng yên, bàn tay nắm chặt của ông đặt trên bàn, mắt dõi theo những họa tiết trên miếng vải dầu. Ông ít khi nói hoặc viết bằng tiếng của mình nên giờ nó trở nên rất khó khăn. Nỗ lực để nhớ lại làm cho ông gần như kiệt sức.
Gần 4 giờ, một người khách xuất hiện: ông Shimerda đội chiếc mũ và quàng chiếc cổ áo bằng lông thỏ, đeo đôi găng mà bà vợ mới đan cho ông. Ông đến cảm ơn chúng tôi vì những món quà và vì sự tốt bụng mà bà đã dành cho gia đình ông. Jake và Otto từ dưới hầm lên và chúng tôi cùng ngồi quanh bếp lò, ngắm nhìn buổi chiều mùa đông đang dần trở nên xám đậm với bầu không khí thoải mái và an lành trong nhà ông nội. Cảm giác này dường như hoàn toàn chiếm hữu ông Shimerda. Tôi cho rằng trong cái hang chật chội bừa bộn của mình ông đã đi đến chỗ tin rằng sự bình yên và trật tự đã hoàn toàn biến mất khỏi trái đất hoặc chỉ tồn tại ở thế giới cũ nơi ông đã rời bỏ lại phía sau. Ông ngồi yên và thụ động, đầu dựa lên lưng chiếc ghế bập bênh bằng gỗ, tay tựa thoải mái trên tay ghế. Bộ mặt ông có vẻ mệt mỏi và thoải mái của người bệnh khi họ thoát khỏi cơn đau. Bà nội ép ông uống một ly rượu táo Virginia sau chuyến đi dài trong cái lạnh và khi một ánh hồng lan tỏa trên má ông, những đường nét trên mặt ông dường như thoát ra khỏi cái vỏ cố hữu, chúng trở nên trong suốt. Ông gần như không nói năng gì và hiếm khi cười nhưng khi ông nghỉ ngơi ở đó chúng tôi đều cảm nhận được sự toại nguyện tuyệt đối của ông.
Khi trời tối tôi xin phép thắp nên trên cây Giáng sinh trước khi thắp đèn. Khi những mẩu nến sáng lên với những ngọn lửa vàng hình nón, tất cả những hình màu từ Áo trở nên trong suốt và nổi bật trên những cành lá xanh. Ông Shimerda đứng dậy, làm dấu thánh và lặng lẽ quỳ xuống trước cái cây, đầu ông gục xuống trước. Thân hình dài thong của ông thành hình chữ “S”. Tôi thấy bà nội e ngại nhìn ông nội. Ông khá là hẹp hòi trong những vấn đề liên quan đến tôn giáo và đôi khi thẳng thừng và làm người khác tổn thương. Trước đó cái cây chẳng có gì bất thường nhưng giờ đây với một người quỳ trước nó với những hình ảnh, nến… Ông nội chỉ đặt ngón tay lên lông mày và cúi cái đầu đáng kính của ông xuống làm cho bầu không khí trở nên thanh sạch.
Chúng tôi thuyết phục vị khách ở lại ăn tối. Ông cần một chút ép buộc để làm điều đó. Khi chúng tôi ngồi xuống bàn, tôi chợt nhận ra ông thích nhìn chúng tôi và khuôn mặt chúng tôi với ông như những trang sách mở. Khi đôi mắt sâu sắc của ông nhìn đến tôi, tôi có cảm giác như thể ông đang nhìn về phía trước tương lai, về con đường mà tôi sẽ có thể đi.
Vào 9h tối, ông Shimerda thắp một cây đèn của chúng tôi và mặc áo khoác cùng cái cổ lông. Ông đứng ở hành lang nhỏ, cây đèn và cái mũ cắp dưới tay, ông bắt tay chúng tôi. Khi nắm tay bà nội, ông cúi xuống như ông luôn làm và nói chậm rãi :”Người phụ nữ tốt bụng” Ông làm dấu thánh giá với tôi, đội mũ lên và bước vào bóng tối. Khi chúng tôi quay trở về phòng khách, ông nội nhìn tôi một cách thấu hiểu “Lời cầu nguyện của những người tốt đều tốt như nhau” ông lặng lẽ nói.
lanhleo1 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-07-2012, 10:16 PM   #14
lanhleo1
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2010
Bài gởi: 31
Xin cảm ơn: 1
Thanked 9 Times in 1 Post
Default

III
Tuần tiếp sau Giáng sinh là lúc tuyết tan và đến ngày đầu năm mới, tất cả thế giới quanh chúng tôi biến thành một nồi súp bùn màu xám còn con dốc giữa cối xay gió và chuồng ngựa đổ ra dòng nước màu đen. Những dải đất đen mềm nổi lên dọc đường đi. Tôi dừng đống việc nhà của mình lại, đem theo những cục than tròn, gỗ và nước và ở trong chuồng ngựa cả buổi chiều xem Jake xát ngô bằng cái máy xát tay.
Một buổi sáng giữa buổi đẹp trời, Antonia và mẹ cưỡi một trong những con ngựa già tiều tụy của họ đến thăm chúng tôi. Đây là lần đầu tiên bà Shimerda tới nhà chúng tôi và bà ta chạy đi chạy lại ngó nghiêng các tấm thảm, rèm cửa và đồ đạc, cùng lúc đó bình luận về chúng với con gái bằng một giọng điệu ghen tỵ và than vãn. Trong bếp bà ta vồ lấy một cái nồi thiếc ở sau bếp lò và nói :”Bà có nhiều, nhà Shimedar không có” Tôi nghĩ bà nội sẽ thật thiếu thông minh nếu cho bà ta chiếc nồi đó.
Sau bữa tối, trong khi đang giúp rửa bát, bà ta nói và hất hàm “Bà có nhiều đồ để nấu. Nếu tôi có tất cả mọi thứ như bà, tôi sẽ làm tốt hơn”
Bà ta đúng là một bà già tự phụ và huyênh hoang, đến vận rủi cũng không làm cho bà ta trở nên khiêm nhường hơn. Tôi giận đến nỗi cảm thấy lạnh nhạt cả với Antonia và lắng nghe một cách không thương tiếc khi cô kể là cha cô không khỏe.
“Cha tôi rất buồn vì quê cũ. Trông ông không khỏe. Ông không chơi nhạc nữa. Khi còn ở nhà ông chơi violin suốt; cho các đám cưới và đám nhảy. Ở đây thì không bao giờ. Khi tôi xin ông chơi đàn, ông lắc đầu không. Thỉnh thoảng ông lấy đàn violin ra khỏi hộp và gảy dây đàn, như thế này, nhưng ông chẳng bao giờ chơi. Ông không thích đất nước này”
“Những người không thích đất nước này thì nên ở nhà” Tôi gay gắt nói “Chúng tôi có bắt họ phải đến đâu”
“Ông không bao giờ muốn đến” Cô kêu lên “Mẹ tôi bắt ông. Lúc nào mẹ cũng nói “Nước Mỹ nước lớn, nhiều tiền, nhiều đất cho bọn con trai của tôi, nhiều chồng cho bọn con gái của tôi” Cha tôi khóc khi phải rời bỏ những người bạn vẫn đánh đàn với ông. Ông quý nhất người hay chơi cái kèn dài như thế này này” cô miêu tả cây kèn trombone dài “Họ cùng đi học và làm bạn từ khi còn nhỏ. Nhưng mẹ tôi thích nước Mỹ vì giàu, có nhiều gia súc”
Tôi giận dữ nói “Mẹ cậu chỉ thích đồ của người khác thôi”
“Ông của cậu giàu có” cô hung hăng trả miếng “Tại sao ông ấy không giúp bố tôi? Ambrosch sau này cũng sẽ giàu, và anh ấy sẽ đền ơn. Anh ấy rất thông minh. Chỉ vì Ambrosch mà mẹ tôi tới đây”
Ambrosch được coi là người quan trọng trong gia đình. Bà Shimerda và Antonia luôn nhắc đến anh ta dù anh ta rất cục cằn với họ và có vẻ khinh thường cha mình. Ambrosch và mẹ anh ta làm mọi việc theo ý mình. Mặc dù Antonia yêu cha hơn bất kỳ ai trên đời, cô lại luôn kính sợ anh trai.
Sauk hi dõi theo Antonia và mẹ leo lên đồi trên con ngựa tội nghiệp mang theo chiếc nồi thiếc, tôi quay lại phía bà nội đang bắt đầu mạng quần áo và nói tôi hi vọng bà già tọc mạch đó sẽ không bao giờ đến thăm chúng tôi nữa.
Bà bật cười và xuyên cái kim sáng lấp lóa qua một cái lỗ trên chiếc tất của Otto “Bà ấy chưa già, Jim mặc dù bà cho rằng đối với cháu bà ấy có vẻ già thế thôi. Bà sẽ không hề buồn nếu bà ấy không bao giờ đến nữa. Nhưng cháu thấy đấy, người ta sẽ chẳng thể biết cái nghèo sẽ làm người ta bộc lộ ra điều gì. Nó làm cho người đàn bà tham lam muốn con cái mình có tất cả mọi thứ. Nào bây giờ đọc cho bà nghe một chương trong “Hoàng tử của nhà David” Hãy quên những người Bohemian đó đi”
Chúng tôi trải qua ba tuần trong thời tiết ôn hòa dễ chịu. Đám gia súc trong bãi quây ăn hết sạch chỗ ngô vừa được xát ra cho chúng và chúng tôi hi vọng chúng sẽ sẵn sàng cho phiên chợ sớm. Một buổi sáng hai con bò đực lớn là Gladstone và Brigham Young ngỡ rằng mùa xuân đã đến và bắt đầu trêu chòng, húc nhau qua tấm lưới sắt ngăn giữa chúng. Sau đó chúng bắt đầu nổi giận. Chúng rống lên, xới tung mặt đất mềm bằng móng, mắt long lên và gục gặc đầu. Mỗi con lùi vào góc xa trong bãi thả của mình và rồi phi nước đại lao vào nhau. Huỵch, huỵch, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng những cái đầu to lớn va vào nhau và tiếng rống của chúng làm cho chảo trên giá bếp rung bần bật. Nếu chưa bị cưa sừng thì chắc chúng sẽ xé xác nhau ra mất. Liền sau đó lũ nghé đực bắt đầu lồng lên, húc và đấu sừng với nhau. Rõ ràng đám hỗn loạn này phải bị dừng lại. Tất cả chúng tôi đứng bên và ngưỡng mộ theo dõi trong khi Fuchs phi ngựa vào giữa bãi thả với một cái chĩa và liên tục xỉa vào đám trâu rồi cuối cùng tách được chúng ra.
Cơn bão mùa đông lớn bắt đầu vào ngày sinh nhật thứ 11 của tôi, ngày 20 tháng 1. Khi tôi xuống ăn sáng hôm đó, Jake và Otto bước vào trắng xóa như người tuyết, vỗ hai tay vào nhau và dậm chân. Họ bắt đầu cười vang ầm ĩ khi nhìn thấy tôi và gọi
“Lần này cậu có quà sinh nhật nhé Jim, không nhầm đâu. Một trận bão tuyết lớn đùng dành riêng cho cậu”
Cả ngày hôm đó bão hoành hành. Lần này tuyết không rơi mà chỉ xổ ra từ bầu trời như thể có hàng ngàn chiếc giường lông đang bị giũ sạch. Chiều hôm đó căn bếp trở thành xưởng mộc; cánh đàn ông mang dụng cụ vào nhà và làm hai chiếc xẻng gỗ lớn cán dài. Cả bà nội và tôi đều không thể ra ngoài trong cơn bão nên Jake phải cho lũ gà ăn và mang vào rất nhiều trứng.
Ngày hôm sau những người đàn ông xúc tuyết cho đến trưa mới có thể đến được chuồng ngựa – và tuyết vẫn rơi. Trong 10 năm ông nội sống ở Nebraska chưa từng có cơn bão nào lớn đến thế. Vào bữa tối ông nói chúng tôi không cần phải đến được chỗ đàn gia súc, chúng đủ béo để có thể cầm cự được 1-2 ngày mà không có ngô nhưng ngày mai chúng tôi phải cho chúng ăn và đổ đầy máng nước cho chúng uống. Chúng tôi không thể nhìn được bãi thả nhưng biết rằng lũ nghé đang ở đó, rúc vào nhau dưới bờ mương phía bắc. Những con bò hung tợn đã bị chinh phục có lẽ đang sưởi ấm lưng cho nhau “Điều này sẽ làm cho chúng hết gắt gỏng” Fuchs vui vẻ nhận xét.
Trưa hôm ấy chẳng ai nghe tin tức gì về lũ gà mái. Sau bữa tối Jake và Otto với bộ quần áo ẩm đã tự khô trên người, duỗi thẳng đôi tay mỏi dừ và lao đầu vào đám gió giật xoáy. Họ đào một cái rãnh xuyên tuyết đến khu chuồng gà, thành rãnh cứng đến nỗi bà và tôi có thể đi đi lại lại. Chúng tôi thấy đàn gà đang ngủ gà gật; có lẽ chúng nghĩ trời đã tối rồi. Con gà trống già vẫn xục xạo xung quanh, mổ vào một cục băng to trong máng nước. Khi bị chúng tôi chiếu đèn vào mát, lũ gà cục tác ầm ĩ và bay tán loạn, lông bay tung tóe. Những con gà mái nhật lông đốm đầu đinh luôn phẫn nộ vì bị giam giữ rít lên the thé và chạy ra cái rãnh, cố gắng dũi bộ mặt xấu xí lem nhem của chúng xuyên qua bức tường băng. Đến 5 giờ tất cả mọi việc đã hoàn tất vừa đúng lúc lại phải làm lại từ đầu! Thật đúng là một ngày lạ lùng.
lanhleo1 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 26-07-2012, 12:34 AM   #15
lanhleo1
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2010
Bài gởi: 31
Xin cảm ơn: 1
Thanked 9 Times in 1 Post
Default

XIV
Buổi sáng ngày 22, tôi đột ngột tỉnh giấc. Trước khi mở mắt tôi dường như đã biết có điều gì đó vừa xảy ra. Tôi nghe thấy những giọng nói kích động trong bếp, tiếng bà nội chói tai tới mức tôi biết bà gần như không kiềm chế được. Tôi vui sướng mong chờ một cơn khủng hoảng mới. Nó có thể là gì nhỉ - tôi tự hỏi trong khi mau chóng mặc quần áo. Có thể khu chuồng trại bị cháy, có thể đám gia súc đã chết rét, hoặc một người láng giềng lạc trong cơn bão.

Khi xuống tới bếp, ông nội đang đứng trước bếp lò, tay chắp sau lưng. Jake và Otto vừa cởi ủng và đang chà xát vào những đôi tất len. Quần áo và ủng của họ đều bốc hơi, và họ đều trông kiệt sưc. Trên chiếc ghế băng đằng sau cái lò là một người đàn ông đang đắp chăn. Bà nội chỉ cho tôi đi vào phòng ăn. Tôi tuân theo một cách miễn cưỡng. Tôi dõi theo bà đi ra đi vào mang theo thức ăn. Đôi môi bà mím chặt lại và bà không ngừng thì thầm với chính mình “Ôi lạy đấng Cứu thế” “Chúa tôi, chỉ có người biết”

Ngay sau đó, ông nội bước vào và nói với tôi “Jimmy, sáng nay chúng ta sẽ không cầu nguyện vì có một việc quan trọng phải làm. Ông Shimerda đã chết và gia đình ông ấy đang rất đau buồn. Ambrosch tới đây từ lúc nửa đêm, Jake và Otto đã quay lại đó cùng cậu ta. Họ đều đã trải qua một đêm mệt nhọc, vì thể cháu đừng hỏi han làm phiền họ. Ambrosch đang nằm ngủ ở kia. Nào các chàng trai, vào ăn sáng thôi.”

Sau khi Jake và Otto đã nuốt được chén cà fe đầu tiên, họ bắt đầu nói một cách phấn khích bất chấp ánh mắt cảnh báo của bà nội. Tôi ngậm miệng nhưng căng tai ra nghe.

“Không đâu thưa ông” Fusch trả lời câu hỏi của ông nội “không ai nghe thấy tiếng súng. Ambrosch đang ở ngoài với đàn bò để mở đường, và đám phụ nữ thì ở yên trong hang. Khi Ambrosch vào nhà, trời đã tối và cậu ấy không nhìn thấy gì nhưng những con bò thì phản ứng rất kỳ. Một trong số đó lồng lên và chạy khỏi chuồng. Tay cậu ấy sưng rộp lên ở chỗ sợi thừng kéo qua. Cậu ấy lấy đèn và quay lại, tìm thấy ông già, như lúc chúng tôi nhìn thấy ông ấy”
“Ôi linhồn khốnkhổ, linh hồn tội nghiệp” bà nội rên rỉ “Tôi ước giá mà ông ấy không làm vậy. Ông ấy luôn là một người biết suy nghĩ và cố gắng không gây phiền phức. Làm sao mà ông ấy có thể lại có thể thiếu suy nghĩ đến thế và đẩy chúng ta vào hoàn cảnh này”
“Tôi không nghĩ là ông ấy mất trí đến một phút đâu bà Burden ạ” Fusch nói “Ông ấy làm mọi việc một cách tự nhiên. Bà biết ông ấy luôn là người gọn gàng, và gọn gàng đến cùng. Sau bữa tối ông ấy cạo râu và tắm rửa sạch sẽ sau khi bọn con gái rửa bát đĩa. Antonia còn đun nước cho ông ấy. Sau đó ông ấy mặc áo sơ mi và đi tất sạch, ăn mặc chinhr tề rồi ông ấy hôn cô bé và đứa nhỏ hơn, cầm súng và nói ông ấy ra ngoài săn thỏ. Chắc chắn ông ấy đã xuống ngay chuồng ngựa và làm chuyện đó. Ông ấy nằm trên cái giường tầng, gần với chuồng bò, là nơi ông ấy ngủ. Khi chúng tôi tìm thấy ông ấy, mọi thứ đều chỉnh tề, chỉ trừ “ Fusch nhíu mày và ngập ngừng “chỉ trừ điều mà ông ấy chắc chắn không thể biết trước. Áo của ông ấy được treo trên mắc, đôi giày dưới gầm giường. Ông ấy đã cởi cái khăn lụa luôn đeo trên cổ, gập nó lại ngay ngắn và gài cái ghim qua nó. Ông ấy còn bẻ cổ áo và xắn tay áo lên nữa”

“Tôi không biết thế nào mà ông ấy lại làm được điều đó” Bà nội tiếp tục nói

Fusch hiểu nhầm ý bà “Sao đâu thưa bà, rất đơn giản, ông ấy kéo chốt bằng ngón chân cái. Ông ấy nằm nghiêng và kê miệng súng vào miệng, đưa chân ra và lấy ngón chân kéo chốt. Ông ấy đã tìm được đúng chỗ”

“Có thể ông ấy làm vậy” Jake trầm ngâm nói “Có điều rất kỳ quặc”

“Cậu nói vậy là ý gì, Jake?” Bất thình lình bà nội hỏi

“Thưa bà, tôi tìm thấy cái rìu của Krajiek ngay dưới máng ăn, tôi cầm nó lên và đem tới gần cái xác, và tôi xin thề là nó vừa khớp với vết thương trên mặt ông già. Cho tới lúc đó Krajiek vẫn quanh quẩn gần đó, xanh xao và lặng lẽ, nhưng khi nó thấy tôi kiểm tra cái rìu, nó bắt đầu khóc thút thít “Chúa ơi, ông đừng làm thế” “Tôi cho là tôi sẽ làm vậy” Tôi bảo nó. Sau đó nó bắt đầu rít lên như chuột cống và chạy quanh vặn vẹo hai tay “Họ sẽ treo cổ tôi” nó nói thế đấy “Chúa ơi chắc chắn họ sẽ treo cổ tôi”

Fusch nôn nóng lên tiếng “Krajiek bị điên rồi, Jake, cậu cũng thế. Ông già không thể nào chuẩn bị từng ấy thứ để Krajiek giết ông ấy, phải không? Mà cũng không khớp nữa. Khẩu súng nằm ngay cạnh khi Ambrosch tìm. thấy ông ấy”

“Krajiek cũng có thể đặt nó ở đó, không đúng à?” Jake vặc lại

Bà nội nóng nảy xen ngang :”Này Jake Marpole, cậu đừng có đưa thêm việc giết người vào vụ tự tử này nữa. Chúng ta có đủ rắc rối rồi. Otto đọc cho cậu nghe quá nhiều truyện trinh thám rồi đấy”

“Rất đơn giản để biết, Emmaline” ông nội lặng lẽ nói “Nếu ông ấy tự bắn mình như họ nghĩ, vết thương sẽ bị toác từ trong ra ngoài”

“Đúng như vậy đó ông Burden” Otto khẳng định “Tôi thấy mấy mảng tóc và óc dính vào cái sào và rơm dọc trần nhà. Chắc chắn chúng bắn lên đó từ phát súng, không nghi ngờ gì nữa”

Bà nội nói với ông bà định sang nhà Shimerda cùng ông

“Bà chẳng làm được gì đâu” Ông nghĩ ngợi “Không ai được động đến cái xác cho tới khi chúng ta mời được thanh tra từ Black Hawk về đây, mà trong thời tiết này cũng phải mất tới vài ngày”

“Tôi có thể mang cho họ ít đồ ăn, và an ủi mấy đứa con gái tội nghiệp. Đứa con gái lớn là đứa con ông ấy cưng hơn cả, như là cánh tay phải của ông ấy. Đáng ông ấy phải nghĩ tới nó chứ. Ông ấy đã bỏ lại nó một mình trong một thế giới khó khăn ” Bà nhìn về phía Ambrosch một cách không tin tưởng, cậu ta đang ăn sáng ở bàn.

Mặc dù Fusch đã thức gần trọn đêm, ông vẫn sửa soạn để cưỡi ngựa 1 chặng dài tới Black Hawk đón ông mục sư và ông thanh tra. Trên con ngựa thiến xám khoẻ nhất của chúng tôi, ông sẽ phải cố gắng đi xuyên qua vùng quê mà không có đường dẫn lối.

“Đừng lo cho tôi bà Burden ạ” ông vui vẻ nói khi đi thêm đôi tất thứ hai vào chân “Tôi có cái mũi thính để dò đường và tôi không bao giờ ngủ nhiều. Tôi chỉ lo cho con xám thôi. Tôi sẽ cố gắng miễn cho nó những gì có thể, nhưng nó sẽ rất căng đấy, tôi chắc với bà vậy”

“Bây giờ không còn thời gian để chăm chút cho lũ vật, Otto, hãy lo cho mình. Dừng ở nhà bà goá Steavens ăn tối. Bà ấy là một người phụ nữ tốt bụng, và bà ấy sẽ trông chừng ông”

Khi Fusch cưỡi ngựa đi, tôi bị bỏ lại với Ambrosch. Tôi thấy ở anh ta một điều mà trước kia tôi chưa từng biết. Anh rất sùng đạo, thậm chí là cuồng tín. Cả buổi sáng anh takhông nói một lời mà ngồi đó cầu nguyện với tràng hạt trong tay, lúc to lúc nhỏ. Anh ta không nhìn đi đâu ngoài những hạt cườm, hoặc động đậy trừ việc giơ tay lên làm dấu thánh. Thỉnh thoảng chàng trai tội nghiệp ngủ gật tại chỗ, choàng tỉnh dậy và tiếp tục cầu nguyện.

Không có chiếc xe ngựa nào có thể tới nhà Shimerda cho đến khi mở được đường, và việc đó phải mất tới 1 ngày. Ông nội tới từ chuồng bò trên lưng một trong bốn con ngựa đen lớn của ông, Jake đưa bà nội lên ngồi sau ông. Bà đội chiếc mũ đen và quấn chặt khăn quanh mình. Ông nội nhét chòm râu bạc rậm rạp vào trong áo khoác. Khi họ lên đường, tôi nghĩ trông họ như vừa bước ra từ Kinh thánh. Jake và Ambrosch theo sau, cưỡi trên con ngựa đen kia và con ngựa con của tôi, mang theo từng chồng quần áo chúng tôi đã chuẩn bị cho bà Shimerda. Và rồi, tôi nhận thấy lần đầu tiên tôi ở nhà một mình.

Tôi cảm thấy khá là oai và uy quyền, và tôi nóng lòng thực hiện nhiệm vụ của mình một cách đáng khen. Tôi bê than và gỗ từ cái hầm chứa vào chất đầy trong lò. Tôi nhớ ra trong cơn hoảng loạn và vội vã buổi sáng, không ai nhớ tới lũ gà, và chưa ai đi thu trứng. Đi ra ngoài qua đường hầm, tôi cho gà ăn ngô, cậy băng ra khỏi chảo đựng nước của chúng và đổ đầy nước. Sau khi đã cho mèo uống sữa, tôi chẳng nghĩ ra được việc gì để làm và ngồi sưởi ấm. Sự yên lặng thật hay ho và tiếng đồng hồ tích tắc là bạn đồng hành dễ chịu nhất. Tôi lấy quyển Robinson Crusoe và cố đọc nhưng cuộc sống trên hoang đảo của ông ta xem ra có vẻ rất tẻ ngắt so với cuộc sống của chúng tôi. Ngay sau đó, khi tôi nhìn quanh phòng khách tiệng nghi của chúng tôi với sự thoả mãn, điều loé lên trong tôi chính là nếu linh hồn của ông Shimerda còn luẩn quất ở thế giới này, chắc chắn nó đang ở đây, trong ngôi nhà cũng chúng tôi, nơi mà ông ưa thích hơn tất thảy trong cả vùng. Tôi nhớ lại gương mặt mãn nguyện của ông khi ở cùng chúng tôi trong ngày giáng sinh. Nếu ông sống cùng chúng tôi, điều kinh khủng kia chắc sẽ không bao giờ xảy ra.

Tôi biết chính nỗi nhớ quê hương đã giết ông Shimerda và tôi tự hỏi liệu linh hồn giờ đã được giải thoát của ông rốt cuộc có tìm được đường về nhà không. Tôi nghĩ không biết bao xa từ đây tới Chicago, rồi tới Virginia, Baltimore, và rồi qua đại dương mênh mông lạnh lẽo. Không, chắc ông sẽ không lập tức khởi hành chuyến đi dài đến vậy. Chắc chắn linh hồn kiệt quệ vì cái lạnh, sự thúc ép và vật lộn với trận tuyết rơi không ngừng này đang nghỉ ngơi trong ngôi nhà yên tĩnh này.

Tôi không hề sợ hãi, nhưng tôi không gây ra tiếng động. Tôi không muốn quấy rầy ông. Tôi nhẹ nhàng đi xuống căn bếp ấm cúng dưới lòng đất, nơi như thể là trái tim và là trung tâm của ngôi nhà đối với tôi. ở đó, trên chiếc ghế băng đằng sau bếp lò, tôi miên man nghĩ về ông Shimerda. Bên ngoài, tôi có thể nghe thấy tiếng gió hát vang trên hàng trăm dặm tuyết rơi. Như thể tôi đã đưa ông già vào tránh khỏi mùa đông khổ sở và ngồi đây cùng ông. Tôi nghĩ về tất cả những điều Antonia đã kể về cuộc đời ông trước khi tới đất nước này, ông đã chơi violon ở các đám cưới và vũ hội ra sao. Tôi nghĩ về những người bạn mà ông nuối tiếc khi phải xa rời, người chơi kèn trombone, khu rừng lớn đầy thú săn của những nhà quý tộc theo lời Antonia, từ đó Antonia và mẹ thường ăn trộm gỗ vào những đêm trăng sáng. Trong khu rừng đó có một con hươu đực màu trắng, nếu ai giết nó sẽ bị treo cổ, cô nói. Những hình ảnh sống động ấy hiện lên với tôi như thể chính là ký ức của ông Shimerda, chưa hề phai nhạt trong bầu không khí vẫn ám ảnh ông.

,
Trời bắt đầu tối khi n. gười nhà tôi trở về, và bà nội mệt tới mức bà đi ngủ ngay. Jake và tôi dọn bữa tối, và trong khi rửa bát đĩa, anh thì thầm ầm ĩ về mọi thứ ở nhà Shimerda. Không ai được chạm vào cái xác cho tới khi ông thanh tra đến. Nếu ai làm vậy, hình như sẽ có một điều rất kinh khủng xảy đến. Xác ông già đã cứng lại “cứng như một con gà tây bọc lại treo lên cho đóng đá ấy” Jake nói. Lũ ngựa và bò nhất định không chịu vào chuồng cho tới khi ông ấy đông cứng tới độ không còn mùi máu nữa. Chúng đã được đưa vào chuồng cùng với xác ông già, vì chẳng còn chỗ nào khác. Một ngọn đèn đã được thắp treo trên đầu ông Shimerda. Antonia và Ambrosch và bà mẹ luân phiên cầu nguyện bên ông ấy. Thằng bé điên đi cùng họ vì nó không thấy lạnh. Tôi tin nó cũng thấy lạnh như mọi người nhưng thích người ta nghĩ nó không thấy thế. Nó luôn thèm muốn được trở nên khác biệt, Marek đáng thương!

Ambrosch bày tỏ nhiều cảm xúc của con người hơn là Jake tưởng nhưng anh ta vẫn quan tâm nhất tới việc mời mục sư, và về linh hồn đang bị dày vò của cha mình và sẽ tiếp tục bị như vậy cho đến khi linh mục và gia đình anh ta cầu nguyện thật nhiều cho ông. Jake kết luận “Theo như tôi hiểu sẽ phải mất vài năm để linh hồn ông ấy tới được Nơi luyện ngục, còn giờ đây thì nó đang bị đoạ đầy”

“Em không tin” tôi quả quyết “Em gần như chắc là không phải thế” Tất nhiên là tôi không nói rằng tôi tin ông đã ở trong chính căn bếp này cả buổi chiều nay trên đường trở về quê hương. Tuy nhiên, sau khi đi ngủ, ý tưởng về sự trừng phạt và nơi luyện ngục hạ gục tôi hoàn toàn. Tôi nhớ tới những lời răn trong về các phú ông bị đầy đoạ và rùng mình. Nhưng ông Shimerda không giàu có và ích kỷ: ông chỉ không hạnh phúc tới mức ông không muốn sống nữa thôi.




thay đổi nội dung bởi: lanhleo1, 26-07-2012 lúc 12:38 AM
lanhleo1 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 27-07-2012, 04:37 PM   #16
lanhleo1
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2010
Bài gởi: 31
Xin cảm ơn: 1
Thanked 9 Times in 1 Post
Default

XV
Otto Fuchs quay về từ Black Hawk vào trưa ngày hôm sau. Ông báo lại rằng ngài thanh tra sẽ đến nhà Shimerda vào buổi chiều nhưng ông linh mục đang ở tận đầu bên kia của giáo phận cách đây hàng trăm dặm mà tầu hỏa lại không hoạt động. Fuchs đã tranh thủ chợp mắt vài tiếng đồng hồ ở chuồng gia súc trong thị trấn nhưng ông lo con ngựa thiến xám đã kiệt sức. Quả thật, sau đó nó không bao giờ còn được như cũ nữa. Chuyến đi dài trên tuyết dày đã rút cạn sức lực của nó.
Fuchs đưa về nhà một người lạ, đó là một người Bohemian trẻ sống gần Black Hawk tới trên con ngựa duy nhất của mình để giúp những người đồng hương trong cơn hoạn nạn. Đây là lần đầu tiên tôi gặp Anton Jelinek. Anh là một người đàn ông trẻ lực lưỡng mới hơn 20 tuổi, điển trai, tốt bụng và tràn đầy sức sống, anh đến với chúng tôi như một phép màu giữa cơn khốn khó. Tôi vẫn nhớ chính xác cách anh sải bước vào căn bếp trong đôi ủng dạ và chiếc áo khoác da sói, đôi mắt và gò má sáng bừng vì lạnh. Nhìn thấy bà nội, anh lột chiếc mũ lông, chào bà bằng một giọng nói trầm và vang rền già trước tuổi.
“Tôi muốn cảm ơn bà rất nhiều, bà Burden, vì bà đã rất nhân từ với những người lạ khốn khổ đến từ đất nước của tôi”
Anh không hề ngần ngại như một người nông dân mà háo hức nhìn vào mắt người đối diện khi nói chuyện. Mọi thứ ở anh đều ấm áp và thoải mái. |Anh nói lẽ ra đã tới thăm nhà Shimerda từ trước nhưng anh được người ta thuê để xay ngô suốt cả mùa thu, và khi mùa đông bắt đầu anh tới ngôi trường cạnh cối xay để học tiếng Anh cùng lũ trẻ. Anh nói với tôi anh có một cô giáo tốt bụng và anh rất thích đi học.
Tại bữa tối, ông nội nói chuyện với Jelinek nhiều hơn với những người lạ khác
“Liệu họ có thất vọng lắm không nếu chúng tôi không thể tìm ra một linh mục?” Ông hỏi
Jelinek trông rất nghiêm trọng
‘Có ạ, họ sẽ thấy rất tệ. Cha họ đã gây ra một trọng tội” anh nhìn thẳng vào ông nội “Đức Chúa của chúng tôi đã phán như thế”
Ông nội có vẻ rất thích sự thẳng thắn của anh.
“Chúng tôi cũng tin như vậy Jelinek ạ. Nhưng chúng tôi tin rằng linh hồn ông Shimerda sẽ sớm về với đấng Tạo hóa mà không có linh mục. Chúng tôi tin rằng Christ là trung gian duy nhất”
Người đàn ông trẻ lắc đầu “Tôi biết ông nghĩ thế nào. Cô giáo ở trường cũng đã giải thích. Nhưng tôi đã gặp quá nhiều điều. Tôi tin vào việc cầu nguyện cho người chết. Tôi đã thấy quá nhiều”
Chúng tôi hỏi anh vậy là có ý gì.
Anh nhìn quanh bàn “Các vị muốn biết tôi sẽ nói gì ư? Khi tôi còn nhỏ như cậu bé này, tôi bắt đầu giúp việc cho linh mục ở bàn thờ thánh. Tôi có lẽ ban thánh thể đầu tiên từ khi còn rất nhỏ, những điều nhà thờ răn dạy có vẻ như rất dễ hiểu đối với tôi. Nhưng rồi chiến tranh tới, khi người Phổ đánh chiếm chúng tôi. Chúng tôi có rất nhiều lính trong trang trại gần làng và dịch thổ tả tấn công trại lính, những người đàn ông chết như ruồi. Suốt ngày linh mục của chúng tôi tới đó để làm lễ xưng tội cho những người hấp hối và tôi đi cùng ông ấy, mang theo những đồ thánh tích làm lễ. Tất cả những người đến gần trại lính đó đều dính bệnh trừ tôi và linh mục. Nhưng chúng tôi không bị bệnh, chúng tôi không sợ hãi vì chúng tôi đang mang máu và phần thân thể của Christ, và nó bảo vệ cho chúng tôi” Anh ngừng lại, nhìn ông nội “Đó là điều tôi biết, ông Burden ạ, nó đã xảy ra với chính tôi. Tất cả những người lính cũng biết. Khi chúng tôi cùng nhau đi trên đường, ông linh mục già và tôi, chúng tôi gặp những người lính đang hành quân và các sĩ quan cưỡi ngựa. Tất cả những sĩ quan đó khi thấy những gì tôi đang mang dưới tấm vải, họ đã kéo cương ngựa và quỳ xuống đất cho tới khi chúng tôi đi qua. Vì thế tôi thấy rất buồn cho người đồng hương của tôi, chết mà không được chịu lễ xưng tội, chết một cách tệ hại đối với linh hồn của ông ấy, và tôi rất buồn cho gia đình ông”
Chúng tôi chăm chú lắng nghe. Thật khó có thể không khâm phục đức tín thẳng thắn và mạnh mẽ của anh.
“Tôi luôn vui mừng khi gặp một người trẻ tuổi suy nghĩ nghiêm túc về những chuyện này” ông nội nói “ và tôi sẽ không bao giờ là người nói rằng anh không được Chúa che chở khi ở giữa những người lính” sau bữa tối, mọi người quyết định anh Jelinek sẽ thắng hai con ngựa ô làm đồng vào cái gạt cửa và mở đường đến nhà Shimerda để xe ngựa có thể đi khi cần. Fuchs là người đóng tủ duy nhất trong vùng sẽ nhận nhiệm vụ đóng quan tài.
Jelinek mặc lại chiếc áo khoác da sói dài và khi chúng tôi xuýt xoa thán phục, anh nói đã bắn và lột da những con sói, còn chàng trai cùng hội với anh là Jan Bouska từng là thợ thuộc da ở Vienna đã may chiếc áo. Từ cối xay gió, tôi dõi theo Jelinek ra khỏi chuồng ngựa cùng với những con ngựa ô và tìm đường lên đồi về phía cánh đồng ngô. Thỉnh thoảng anh biến mất hoàn toàn trong những đám mây tuyết bốc cao quanh mình rồi lại cùng những con ngựa hiện ra một màu đen sáng chói.
Chiếc ghế băng thợ mộc nặng nề được đem từ chuồng ngựa tới và mang xuống bếp. Fuchs chọn những ván gỗ từ chồng ván ông nội đã kéo về từ thị trấn hồi mùa thu để làm sàn mới cho kho yến mạch. Khi những miếng gỗ và dụng cụ đã có đủ và các cánh cửa đã đóng lại, những cơn gió lạnh buốt đã bị chặn lại, ông nội cưỡi ngựa đi đón ngài thanh tra tới nhà Shimerda, Fuchs cởi áo khoác và bắt tay vào việc. Tôi ngồi ở bàn làm việc và xem ông làm việc. Trước hết ông chưa dùng đến dụng cụ mà mất một lúc để vẽ trên trên giấy, sau đó đo các miếng ván và đánh dấu lên đó. Khi đã hài lòng, ông huýt sáo khe khẽ một mình và nghịch ngợm kéo kéo nửa cái tai còn lại. Bà nội đi qua đi lại thật yên ắng để không làm phiền ông. Cuối cùng, ông gấp cái thước lại và quay bộ mặt vui vẻ về phía chúng tôi.
“Phần khó nhất đã xong rồi” ông thông báo “Lúc khởi đầu bao giờ cũng khó khăn với tôi, đặc biệt là vì lâu rồi tôi không đụng đến chuyện này. Bà Burden ạ, lần cuối tôi làm một trong những thứ này” ông nói tiếp khi lựa và thử mấy cái đục “ là cho một người bạn ở Mỏ Hắc Hổ tận Silverton, Colorado. Miệng cái mỏ đó nằm trên mặt vách đá, người ta cho chúng tôi vào một cái thùng, đặt lên xe đẩy và đẩy vào hầm lò. Cái thùng sẽ chạy qua 1 hẻm núi sâu 300 dặm, dưới đó một phần ba ngập nước. Một lần 2 người Thụy Điển đã ngã khỏi cái thùng, rơi xuống nước. Mà bà không tin được đâu, ngày hôm sau họ đã đi làm lại rồi. Không thể giết được người Thụy Điển. Nhưng hồi tôi ở đấy, một cậu bé người Ý đã rơi khi nước triều lên, và cậu ấy không được may mắn như thế. Lúc đó có tuyết, như bây giờ này, và tình cờ tôi là người duy nhất trong trại biết làm quan tài. Tiện thật đấy, khi cứ lang thang như tôi.”
“Chúng ta chắc chắn sẽ gặp khó khăn nếu ông không biết làm, Otto ạ” Bà nội nói
|”Vâng thưa bà” Fuchs thừa nhận với đôi chút tự hào”Rất ít người biết cách đóng 1 cái hòm vừa khít. Lắm lúc tôi cứ băn khoăn không biết sau này ai sẽ đóng được hòm cho tôi. Nhưng tôi không khó tính lắm đâu”
Cả buổi chiều, mỗi khi bước vào nhà, người ta có thể nghe thấy tiếng kẽo kẹt hào hển của chiếc cưa hoặc những ù ù dễ chịu của cái bào. Đó là những âm than thật vui vẻ, như hứa hẹn những điều mới mẻ cho những người còn sống, thật tiếc vì những phiến gỗ thông mới tinh này sẽ nhanh chóng bị chôn vào lòng đất. Rất khó làm gỗ phiến vì nó dính đầy sương giá, những tấm gỗ tỏa ra mùi hương ngọt ngào của gỗ thông khi đống vỏ bào màu vàng ngày càng đùn lên cao. Tôi băn khoăn không biết vì sao Fuchs không chuyên tâm vào việc đóng tủ, ông làm việc đó với tất cả sự tận tâm và dễ dàng. Ông cầm dụng cụ như thể ông yêu thích cảm giác về chúng, và khi ông bào gỗ, đôi bàn tay đưa tới đưa lui trên bản gỗ một cách hăm hở và yêu thương như thể ông đang ban phúc cho chúng vậy. Thỉnh thoảng ông lại lẩm bẩm bằng tiếng Đức như thể công việc này làm ông nhớ lại quá khứ xa xưa.
Lúc 4 giờ, ông Bushy là người đưa thư, tới để sưởi ấm cùng với một người hàng xóm khác sống ở phía tây của chúng tôi. Họ đang trên đường tới nhà Shimerda. Tin về những gì xảy ra bằng cách nào đó đã lan truyền khắp vùng đất bị tuyết bao phủ. Bà nội mời khách dùng bánh đường và café nóng. Trước khi họ đi, anh trai bà quả phụ Steavens sống trên đường Black Hawk tới trước cửa, tiếp theo ông ta là chủ gia đình người Đức, hàng xóm gần nhất với chúng tôi về phía nam. Họ xuống ngựa và cùng vào phòng khách với chúng tôi. Họ nôn nóng muốn biết mọi chi tiết của vụ tự tử và đều vô cùng lo lắng về việc sẽ chôn ông Shimerda ở đâu. Nghĩa trang đạo thiên chúa gần nhất là ở Black Hawk, sẽ mất vài tuần trước khi xe ngựa tới được đó. Ngoài ra, ông Bushy và bà nội đều chắc chắn là một người tự sát sẽ không thể được an tang ở nghĩa trang Thiên chúa giáo. Có một nơi thường được dùng để chôn cất ở khu nhà thờ người Nauy, phía tây của hẻm Squaw, có lẽ nhưng người Nauy sẽ chấp nhận ông Shimerda an táng ở đó.
Sau khi các vị khách từng người một cưỡi ngựa về phía ngọn đồi, chúng tôi trở về căn bếp. Bà nội bắt đầu làm kem phủ bánh socola còn Otto tiếp tục lấp đầy ngôi nhà với bài ca phấn khích của chiếc bào. Điều dễ chịu trong lúc này là mọi người nói chuyện nhiều hơn lệ thường. Cho tới buổi chiều nay, tôi chưa bao giờ nghe thấy người đưa thư nói gì khác ngoài “Hôm nay chỉ có giấy tờ thôi” hoặc “Tôi có một bao tải thư cho cậu”. Bà nội thì vẫn nói chuyện suốt, nói một mình hoặc với đức Chúa nếu không có ai nghe bà, nhưng thường thì ông nội rất kiệm lời, Jake và Otto thì quá mệt mỏi sau bữa tối đến nỗi tôi quen với cảm giác bao quanh mình mà một bức tường im lặng. Giờ thì tất cả mọi người đều có vẻ háo hức được nói. Chiều hôm đó Fuchs kể cho tôi nghe hết chuyện này đến chuyện khác, về mỏ Hắc hổ, và về những cái chết dữ dội, những cuộc mai táng qua loa và cả những điều tưởng tượng kỳ quặc về người hấp hối. Ông nói bạn chẳng bao giờ có thể thật sự hiểu một con người cho tới khi bạn nhìn thấy anh ta chết. Hầu hếu mọi người đều rất can đảm và ra đi mà không hề oán hận.
Trên đường về nhà, người đưa thư ghé lại để thông báo ông nội sẽ đưa ngài thanh tra về đây nghỉ đêm. Những người trông coi nhà thờ của người Nauy đã họp bàn và quyết định khu nghĩa trang của người Nauy không thể rộng lòng thu nhận ông Shimerda.
Bà nội phẫn nộ “Nếu những người nước ngoài đó hẹp hòi đến vậy thì ông Bushy này, chúng ta sẽ có một nghĩa trang phóng khoáng của người Mỹ. Tôi sẽ làm như vua Josiah và bắt đầu xây 1 nghĩa trang khi xuân đến. Nếu có chuyện gì xảy ra với tôi, tôi không muốn những người Nauy mở tòa án giáo hội để phán xét xem tôi có đủ tốt để được chôn cất giữa họ hay không”
Sau đó ông nội quay về cùng với Anton Jelinek và con người quan trọng kia, chính là ngài thanh tra. Đó là một ông già dịu dàng nhưng tất bật, là một Cựu binh nội chiến với một cánh tay áo trống trơn. Có vẻ như ông thấy vụ án này rất phức tạp và nói nếu không vì ông nội thì ông đã ban hành ngay một lệnh bắt giam cho Krajiek. “Cách cậu ta cư xử và việc cái rìu khớp với vết thương đã đủ để kết tội bất kỳ người nào”
Mặc dù rõ ràng là ông Shimerda đã tự sát, Jake và ngài thanh tra vẫn nghĩ cần phải làm gì đó với Krajiek vì cậu ta xử sự như một kẻ có tội. Cậu ấy chắc là sợ ghê lắm, và có thể thậm chí còn thấy hối hận vì đã thờ ơ với sự khổ sở và cô đơn của ông già.
Tại bữa tối, những người đàn ông ăn như những người Vikings và chiếc bánh socola mà tôi đã hi vọng sẽ còn lại chút ít cho ngày mai đã biến mất chỉ sau lượt thứ hai. Họ phấn khích bàn luận về nơi an táng ông Shimerda, tôi đồ rằng tất cả những người hàng xóm đều rất phiền lòng và choáng váng về chuyện gì đó. Hóa ra bà Shimerda và Ambrosch muốn an táng ông Shimerda ở rìa tây nam khu đất của họ, thật ra là ngay tại nơi đánh dấu mảnh đất. Ông nội đã giải thích cho Ambrosch là khi nào vùng quê này được đóng cọc rào và phân đường, hai con đưỡng sẽ giao nhau ở ngay chỗ đó. Nhưng Ambrosch chỉ nói “Chẳng sao hết”
Ông nội hỏi Jelinek rằng ở quê hương họ có điều mê tín nào cho rằng phải chôn người tự sát ở ngay điểm giao lộ hay không.
Jelinek nói anh không biết, có vẻ như anh đã từng nghe về một tục lệ tương tự ở Bohemia. “Bà Shimerda đã quyết vậy” anh nói thêm “Tôi cố thuyết phục bà ấy và nói điều này sẽ làm cho bà trở nên tồi tệ trong mắt những người láng giềng nhưng bà ấy nói là nó phải vậy “Tôi phải chôn ông ấy ở đó, nếu tôi phải tự đào mộ” bà ấy nói vậy. Tôi phải hứa là sẽ giúp Ambrosch đào mộ vào ngày mai”
Ông nội vuốt chòm râu và quyết định “Tôi không biết ai có quyền quyết định trong chuyện này nếu không phải bà ấy. Nhưng nếu bà ấy nghĩ rằng mình sẽ sống để nhìn mọi người trong vùng này phi ngựa trên đầu ông già, bà ấy đã lầm rồi”
lanhleo1 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn

Trả lời

Bookmarks

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ GMT. Giờ hiện tại là 11:59 PM.



vBulletin Optimisation by vB Optimise.