Welcome, Khách Viếng Thăm.

Nếu đây là lần đầu bạn ghé thăm diễn đàn, xin mời bạn xem phần Hướng dẫn đọc và xem eBook. Hoặc bạn cũng có thể ghi danh để theo dõi và tham gia thảo luận cùng chúng tôi.

Góc dịch các tác phẩm tiếng Pháp Cho phép nhiều nhóm cùng dịch 1 tác phẩm để học hỏi kinh nghiệm dịch thuật...

Trả lời
Old 27-08-2011, 07:56 PM   #21
hagiang1310
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 40
Xin cảm ơn: 13
Được cảm ơn 261 lần trong 40 bài
Send a message via Yahoo to hagiang1310
Default Chương 18: Giấc ngủ mê

Trong tất cả những nỗi đau, những thứ đau đớn nhất
chính là nỗi đau mà người ta tự buộc mình phải gánh chịu.
SOPHOCLE

San Francisco
Thứ hai 19 tháng mười hai
22h30

Jonathan bước xuống khỏi cáp treo từ nhà thờ Grace Cathedral. Thành phố chìm trong một màu trắng đục bao bọc lấy đủ thứ âm thanh và phủ lên các con đường một tấm màn bí ẩn. Anh đi bộ khỏi đường Powell Street, đi khoảng một trăm mét nữa để đến bệnh viện Lenox.

- Tôi có hẹn với bác sĩ Morales, anh nói với tiếp tân.

Do họ nói anh phải đợi ở sảnh, anh thả người lên chiếc tràng kỉ ở phòng chờ và lấy từ túi ra một tờ giấy trên đó in bức chân dung của Alice.

Khuôn mặt của cô bé đã theo anh cả ngày hôm nay. Anh đã cố gắng để không làm sống lại kỉ niệm đó, tự nói với mình rằng anh đã nhìn lầm người, nhưng không có kết quả gì. Lúc anh gặp Alice Dixon, cô bé có mái tóc nâu và tự xưng là Alice Kowalski, nhưng cô bé mặc đúng chiếc áo pull màu hồng đó và mang cùng một vết thương trong ánh mắt như thế.

- Chào anh, Jonathan
- Chào em, Ana-Jucia, anh trả lời trong khi ngước mắt về phía một người phụ nữ trẻ xinh đẹp với nước da sẫm màu và mái tóc đen tuyền.

Bác sĩ Morales toát lên một vẻ thanh lịch và giản dị. Người nhỏ nhắn, cô mặc một chiếc áo blouse trắng khoác ngoài áo sơ mi, theo kiểu áo vest làm toát lên một cách kín đáo dáng người đầy đặn của cô.

- Anh vào phòng em nhé ?

Jonathan theo cô vào thang máy với bước đi chắc chắn.

- Cũng lâu rồi nhỉ, cô nói trong khi ấn nút thang máy lên tầng sáu.
- Cũng hơn một năm rồi, Jonathan đồng tình.

Không khí trở nên im lặng. Anh đã gặp Ana-Jucia vào những tháng đầu tiên khi mới đến San Francisco. Một khoảng thời gian khó khăn của cuộc đời anh. Anh được tư vấn về người bác sĩ tâm lý này bởi Elliot Cooper, một bác sĩ giải phẫu của bệnh viện, khách thường xuyên của nhà hàng anh và sau đó cũng trở thành bạn anh. « Cô ta không có khả năng giải quyết mớ hỗn độn trong cuộc sống của mình, nhưng cô ta biết cách giúp đỡ người khác ngay cả khi cô ấy hơi quá xinh đẹp để là một bác sĩ tâm lý », người bác sĩ già cũng đã lưu ý anh như vậy.

Jonathan cũng đã thực hiện vài lần điều trị mà anh cảm thấy khá hơn đôi chút, rồi anh chỉ đến để lấy vài liều thuốc an thần, rồi sau đó anh không đến nữa. Sự phân tích tâm lý không phải dành cho anh, dù sao đi nữa, anh vẫn chưa sẵn sàng.

Một buổi chiều, vài tuần sau lần khám cuối cùng của anh, anh đã tình cờ gặp Ana-Jucia trong một quán bar ở North Beach. Chỗ này gần với một con đường đua hơn là quán Café Costes. Trên sân khấu, một tay guitar độc tấu lại một bài hát cũ của Led Zep'. Jonathan vẫn chưa thoát ra khỏi nỗi đau về người vợ cũ, Ana-Jucia vừa mới bị bạn trai bỏ rơi, một thương nhân giàu có và ích kỉ sống ở đầu kia của đất nước, nhưng cô luôn say mê hắn ta. Họ đã uống vài ly bia, có tán tỉnh nhau đôi chút và xém tí nữa đã cùng nhau làm chuyện ngu ngốc. Người ta ai cũng có những lúc điên loạn như thế...

- Anh có vẻ ốm đi nhỉ, cô nói để phá vỡ sự im lặng.
- Có lẽ vậy, anh nói. Thật ra anh có chuyện muốn nhờ em.

Cửa thang máy mở ra trước một hành lang dài dẫn đến phòng khám của Ana-Jucia : một căn phòng nhỏ với ánh sáng dịu nhẹ hướng ra đường Hyde Street.

- Em nghe đây.
- Nếu anh nhớ không lầm, khi anh tới đây khám, em đều lưu lại những lần đó phải không ?
- Đúng vậy, nhưng em có thể đếm được nó trên đầu ngón tay, cô nói trong khi gõ họ của Jonathan trên bàn phím.

Xem hồ sơ của anh, cô xác định:

- Em đã lưu lại ba lần.
- Em có thể cho anh xem hồ sơ chứ ?
- Tất nhiên rồi, em sẽ gửi mai cho anh ngay. Nó nằm trong quá trình điều trị. Anh có cần gì khác nữa không ?
- Cảm ơn em, vậy là được rồi, anh khẳng định trong khi đứng dậy.
- Được rồi, em sẽ không hỏi thêm nữa.

Đến lượt cô cũng đứng lên, mặc lại chiếc áo blouse mà cô vừa treo lên trên giá.

- Ca trực của em đã xong, em đưa anh về nhé ? Cô nói trong khi khoác lên người một chiếc áo khoác không thấm nước bằng da màu nâu làm cô trông giống một người mẫu hơn là một bác sĩ.
- Cảm ơn em.

Anh theo cô xuống bãi đỗ xe dưới tầng hầm và tiến đến một chiếc Audi Spyder bóng loáng.

- Em phải khám bao nhiêu lượt mỗi tuần để sắm chiếc xe xịn này thế ?
- Nó không phải của em, cô khéo léo lẩn tránh
- Hiểu rồi : tay thương nhân của em đã trở lại.
- Thế còn vợ anh ?

Cho rằng câu hỏi quá phi lý, Jonathan nhún vai.

Chiếc xe lao ra đường Bush Street và rẽ sang Leavenworth. Ana-Jucia thích một cuộc sống mạo hiểm. Cô tận dụng đường thẳng của California Street để tăng tốc độ mạnh mẽ.

- Em đang đùa với gì đấy ?
- Xin lỗi anh, cô giảm tốc độ lại.

Vẻ nghĩ ngợi, cô chạy chậm lại, vào đường Grant Avenue trong im lặng rồi tới Lombard. Vào lúc đó, cô chợt nhận xét :

- Anh cũng giống như nhiều người khác, Jonathan : bị lạc trong những góc tối. Anh chỉ có thể thấy khá hơn một khi anh tự giải thoát mình khỏi sức nặng của những bóng ma ấy.
- Những bóng ma à, chúng thì không nặng lắm đâu, anh nói đùa.
- Nhưng những gì chúng kéo theo thì có thể nặng đến hàng tấn, cô trả đũa lại.

Anh suy nghĩ về câu nói đó suốt quãng đường còn lại, rồi cô để anh xuống ở đỉnh của Telegraph Hill.

- Còn em, em đã khá hơn chưa ? Anh hỏi trong khi mở cửa chiếc Spyder.
- Chưa, cô nói, nhưng đó là một vấn đề khác.
- Được rồi, anh không hỏi thêm nữa.

Cô nở một nụ cười và nhanh chóng lướt đi về phía những ánh đèn của thành phố.

Cảm thấy thoải mái hơn vì đã trở về, anh đẩy cửa vào nhà. Marcus đã say ngủ trên chiếc ghế dài trước một tập phim cũ của Star Trek. Anh tắt ti vi trước khi ghé mắt vào phòng ngủ của con trai để chắc chắn rằng mọi thứ đều ổn. Charly ngủ với hai tay nắm chặt. Cậu bé chắc đã miệt mài với chiếc máy tính bảng để giúp đỡ những chú Angry Birds trong cuộc chiến với những chú heo xanh.

Có một chút nổi giận, anh tắt chiếc máy tính. Lúc anh ở tuổi đó, anh ngủ say bên một cuốn sách, chứ không phải một màn hình máy tính ! Anh nghĩ đến những ngày xa xưa lúc anh say mê với những Tintin, Ba chàng lính ngự lâm, Marcel Pagnol, Jules Vernes rồi sau đó là Stephen King và John Irving. Tất cả dường như đã qua xa rồi. Giữa những tivi, điều khiển trò chơi, máy tính và điện thoại, những màn hình và mạng lưới đã xâm chiếm cuộc đời chúng ta từ khi ta còn rất nhỏ. Rõ ràng là mặt xấu nhiều hơn mặt tốt.

Có phải mình đã trở thành một ông già ngu ngốc ? Anh tự hỏi trước khi đến lượt mình gục ngã trước sự quyến rũ của máy vi tính, anh ngồi trước máy tính để xem xét những mail mà Ana-Jucia đã gửi cho anh.

Có đúng ba tập tin mp3 phù hợp với ba buổi anh đến khám ở chỗ cô. Anh biết chắc chắn cái mình cần tìm. Đoạn anh muốn nghe lại nằm ở phần đầu của buổi khám thứ hai.

Anh mang tai nghe vào, tắt đèn và ngồi lên chiếc tràng kỷ để nghe đoạn thu âm.

Những phút đầu, chủ yếu là nghe giọng của Ana-Jucia, êm dịu một cách đáng kinh ngạc, dùng để đưa bệnh nhân vào một trạng thái thư giãn hoàn toàn để dần tiến vào một giấc ngủ sâu nhẹ nhàng.

Rồi cô đi thẳng vào chủ đề :

« Tuần trước, anh đã kể cho tôi nghe về một tuần lễ tồi tệ nhất trong cuộc đời anh : những ngày mà anh vừa mất cả vợ mình và cả công việc nữa. Tuần lễ mà anh biết được cái chết của người cha mà anh đã không nói chuyện từ mười lăm năm nay. Anh đã nói với tôi rằng anh đã do dự rất lâu về việc có đến đám tang của ông không. Và, cuối cùng, anh đã bay đến Paris, phải vậy không ? »

Sau một lúc im lặng, Jonathan bắt đầu thú nhận. Trong khoảng thời gian huy hoàng của mình, anh đã quen với máy quay và ống kính của các buổi phỏng vấn. Nhưng đã hai năm nay anh không còn là người được phỏng vấn và điều này làm anh thấy kì lạ khi nhận ra vào thời điểm đó giọng nói và cách phát âm của anh đầy cảm xúc và chứa đựng sự cam chịu :

« Tôi đến Paris vào ngày 31 tháng mười hai vào cuối buổi chiều. Năm đó, mùa đông rất lạnh trên toàn nước Pháp. Tuyết đã rơi từ một tuần trước đó, ở một vài nơi, thủ đô mang dáng vẻ của những khu trượt tuyết... »
hagiang1310 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 08-09-2011, 01:29 AM   #22
hagiang1310
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 40
Xin cảm ơn: 13
Được cảm ơn 261 lần trong 40 bài
Send a message via Yahoo to hagiang1310
Default Chương 19*: Gặp nhau trên đường

Thành công không phải lúc nào cũng minh chứng cho niềm vui,
nó thậm chí thường là bề nổi của một nỗi đau bị ẩn giấu
Boris CYRULNIK

« Tôi đến Paris vào ngày 31 tháng mười hai vào cuối buổi chiều. Năm đó, mùa đông rất lạnh trên toàn nước Pháp. Tuyết đã rơi từ một tuần trước đó, ở một vài nơi, thủ đô mang dáng vẻ của những khu trượt tuyết... »

Paris
Hai năm trước
31 tháng 12 2009

Tôi đã thuê một chiếc xe tại sân bay, một chiếc ôtô Đức tiện nghi và có vẻ chạy tốt trong mọi điều kiện. Đáng lẽ tôi đã có thể lấy chuyến bay đến Toulouse, nhưng vì đang là dịp lễ, đám tang của cha tôi đã được dời sang ngày 2 tháng 1, và ý tưởng phải đón một giao thừa tang tóc với chị gái cùng anh rể làm tôi không thoải mái chút nào.

Cuối cùng tôi đã quyết định đến Auch bằng xe hơi, và chỉ có thể đó vào chiều tối ngày mai. Trong lúc chờ đợi, tôi có 24 tiếng để giết thời gian. Tôi đã không chợp mắt suốt ba ngày liền và tôi đã nghĩ rằng mình có thể nhấn chìm nỗi mất ngủ đó trong một đêm rất dài. Tôi mơ đến những viên tròn tròn có khả năng giết chết cả một trung đoàn, nhưng bây giờ tôi không có rượu mêdốc để dùng chúng và việc gọi một bác sĩ vào giờ này cũng không dễ dàng gì. Trước hết, tôi cần phải tìm một khách sạn, bởi vì chỗ mà tôi thường ở mỗi khi sang đây, ở quận 6, đã không còn lấy một phòng trống.

Rất tiếc chỗ chúng tôi đã hết phòng, nhân viên tiếp tân lạnh lùng thông báo cho tôi.

Thông thường, ngay cả khi tôi chỉ ghé qua, các quản lý khách sạn luôn xoay sở để đón tiếp tôi một cách nồng nhiệt nhất bởi vì tôi là Jonathan Lempereur, bởi vì đó là một vinh dự khi tôi chọn khách sạn của họ, bởi vì họ đã treo ảnh được tôi đề tặng trong sảnh nhỏ, kế bên những khách VIP khác đã từng lưu lại đó. Nhưng tin tức đến một cách nhanh chóng và chắc là các nhân viên đã được thông báo về tình trạng « thất sủng » của tôi, bởi vì không một ai có chút cố gắng nào trong việc giúp tôi tìm phòng. Tôi có quen một vài người bạn đồng nghiệp trong lĩnh vực khách sạn và nhà hàng hạng sang, nhưng tôi có lòng tự trọng và tôi đã quyết định không để họ cười nhạo vì tình trạng của mình. Sau một vài cuộc gọi, cuối cùng tôi cũng tìm được một phòng trong một khách sạn khiêm tốn, ở quảng trường Château-Rouge, ở góc giữa đại lộ Barbès và đường Poulet. Căn phòng của tôi đúng thật là « khiêm tốn », thậm chí là khắc khổ. Trên hết là một cái lạnh kinh khủng. Tôi đã thử bật lò sưởi, nhưng nó cũng không thay đổi gì nhiều. Lúc đó là 17 giờ ; trời đã tối rồi. Tôi ngồi trên giường và lấy tay ôm đầu. Tôi nhớ con trai tôi, vợ tôi và cuộc sống của tôi. Trong vòng một tuần, tôi đã mất tất cả. Một vài ngày trước, tôi sống với gia đình trong một căn hộ ở TriBeCa, tôi điều hành một tập đoàn, tôi có Black Card và ba mươi cuộc hẹn phỏng vấn mỗi tuần... Chiều đó, tôi đã muốn khóc và đã trải qua ngày đầu năm mới một cách cô độc trong một căn phòng bần tiện.

You'll never walk alone... (Bạn sẽ không bao giờ phải đi một mình)

Một tai nạn ngẫu nhiên bất ngờ ập xuống người tôi. Tôi rời khỏi căn phòng và trở vào xe hơi. Vừa lái xe, tôi vừa gõ một địa chỉ vào thiết bị GPS, đường Maxime-Gorki ở Aulnay-sous-Bois, và đi theo hướng dẫn từ một giọng nữ của thiết bị. Ở ghế bên cạnh tôi là những tờ báo tiếng Pháp và tiếng Mỹ mua từ sân bay. Báo chí Pháp đã bỏ rơi tôi vài năm gần đây lần này lại như đang hoan hỉ : Lempereur bị truất, Sự truất ngôi của hoàng đế...

Đó chính là trò đùa của truyền thông và tôi đã chuẩn bị sẵn tâm lý. Hôm nay những tựa đề đó là kẻ tàn phá và tôi sẵn sàng đối mặt với chúng cũng như những cú công kích khác. Tôi đã không dám tin được rằng mình sẽ lại hồi phục được. Ngoài việc sáng tạo những công thức nấu ăn, tôi còn biết làm gì khác ? Không gì cả hoặc là rất ít... Khi mất Francesca, tôi đã mất đi ngọn lửa có thể đẩy tôi về phía trước, người đã biến tôi từ một bếp trưởng hạng xoàng thành ông chủ của nhà hàng ngon nhất thế giới. Có hai mươi lăm nhà hàng ba sao ở nước Pháp và gần tám mươi nhà hàng trên toàn thế giới, nhưng chỉ có một nơi mà danh sách chờ kéo dài đến một năm. Đó là nhà hàng của tôi và tôi biết rằng tôi nợ Francesca điều đó. Bởi vì tôi chỉ làm vì điều đó : tình yêu duy nhất, niềm đam mê, khao khát không ngừng để làm cô ấy say đắm. Tôi đã gặp Francesca năm tôi ba mươi mốt tuổi, nhưng tôi đã đi tìm cô ấy từ thời trung học. Mười lăm năm hi vọng rằng một phụ nữ như cô ấy sẽ ở đâu đó trên trái đất này. Một người phụ nữ đẹp như Catherine Zeta-Jones với bộ não của Simone de Beauvoir. Một người phụ nữ có mười đôi Stilettos trong tủ quần áo, nhưng cũng có khả năng nói với bạn về ảnh hưởng của nhạc Haydn lên âm nhạc của Beethoven hay ấn tượng của sự tình cờ trong hội họa của Pierre Soulages.

Khi Francesca bước vào một căn phòng, cô thu hút hết mọi ánh nhìn. Phụ nữ thì muốn cô ấy trở thành bạn thân nhất của họ, đàn ông thì muốn ngủ với cô, trẻ con thì vui thích với vẻ hiền dịu của cô. Đó là sự thật hiển nhiên và không thể tránh được. Chúng tôi đã trải qua những năm tháng yêu đương nồng cháy và một sự phân chia nhiệm vụ buồn cười : tôi có được danh tiếng, cô ấy có vẻ quyến rũ và sức hút mãnh liệt. Tình yêu của chúng tôi được giữ gìn suốt sáu năm bằng sợi dây liên kết đó.

*

Bằng đường cao tốc, tôi đến Aulnay trong vòng hai mươi phút. Tôi tìm được một chỗ trên đường Gorki, cách không xa lắm tòa nhà nơi Christophe Salveyre đang ở.

- Là Jonathan đây, tôi nói trong khi nhấn chuông.
- Jonathan nào ?
- Jonathan Lempereur, em họ của anh đây.

Salveyre là con trai của dì tôi. Chúng tôi đã không gặp nhau cho đến khi anh ta gọi cho tôi ở New York, ba năm về trước. Đi nghỉ lễ ở Trái táo khổng lồ, anh ta đã bị bắt giữ bởi cảnh sát sau một cuộc ẩu đả trong quán bar. Anh ta không quen biết ai ở Manhantan và không có lấy một xu dính túi. Do tình nghĩa ruột thịt, tôi đã trả tiền bảo lãnh và cho anh ta ở nhờ trong một trong những chi nhánh của nhà hàng trong khi chờ đợi vụ việc ổn thỏa. Anh ta sòng phẳng với tôi và không hề giấu diếm gì những hành động của anh ta ở Pháp : anh ta buôn thuốc phiện. Điều này làm tôi lạnh sống lưng, nhưng anh ta đảm bảo với tôi rằng ở Mỹ thì anh ta trong sạch.

- Mày tìm kiếm gì ở đây ? Anh ta hỏi trong khi mở cửa.
- Tôi cần anh giúp tôi một việc, tôi nói trong khi bước vào nhà.
- Mày tìm sai chỗ rồi, khỉ thật. Tao trở về đây để « kiếm chác », nhưng giờ tao sắp phải rời đi.
- Điều này quan trọng lắm.
- Mày muốn gì ?
- Tôi cần có một vũ khí.
- Vũ khí ?
- Một khẩu súng.
- Mày thấy treo biển « bán vũ khí » trước cửa à ? Mày muốn tao tìm đâu ra cho mày một khẩu súng chứ ?
- Hãy cố gắng giúp tôi với !

Salveyre thở hắt ra.

- Đang là giao thừa, khốn nạn ! Người ta thì nghỉ lễ còn tao thì có một số lượng khổng lồ « hàng trắng » cần phân phối. Ngày mai quay lại gặp tao.
- Không, tôi cần phải có ngay tối nay !
- Tối nay, tao không thể. Tao phải chuyển nhiều « hàng » nhất có thể trong khoảng thời gian ngắn nhất.
- Hãy nhớ lại ngày tôi đã giúp anh khi anh trong tình huống nguy hiểm...
- Ai sẽ trả tiền cho tao khi tao bỏ lỡ cái lãi này đây ?
- Hãy nói cho tôi biết anh muốn bao nhiêu !
- Tao sẽ giúp mày nếu mày mua cho tao 4000 euros thuốc phiện. Và thêm 3000 euros cho khẩu súng.
- Đồng ý, tôi trả lời một cách không thận trọng. Anh không cách gì để đổi tiền đô la à ?

Khi rời khỏi New York, tôi đã rút hết tiền trong két sắt và tôi có hơn 10000 đô la tiền mặt.

- Chờ tao một tiếng, anh ta nói với tôi. Mày có thể đợi ở đây : hãy nghỉ ngơi đi, trông mày thật thảm hại.

Tôi làm theo lời anh ta và nằm dài lên chiếc trường kỷ. Trên bàn có một chai cognac đã mở. Tôi rót cho mình một cốc lớn rồi một cốc nữa trước khi từ từ chìm vào giấc ngủ.

Salveyre trở về lúc gần 20 giờ.

- Tao đưa mày cái mà tao tìm được, anh ta nói trong khi đưa tôi một khẩu súng lục bọc crôm với báng súng màu đen.

- Khẩu súng rất gọn, nhưng khá nặng. Với năm vỏ đạn, ống đã được nạp đầy.

- Là một khẩu Smith & Wesson Model 60 cỡ 38 đặc biệt.

Thông tin đi vào lỗ tai này và ra lỗ tai bên kia.

Tôi đưa anh ta tiền và anh ta đưa lại tôi một túi có khóa kéo bên trong chứa khoảng hai mươi liều cocain. Tôi do dự định để lại cho anh ta, nhưng rồi cuối cùng quyết định mang theo chúng trong khi tự nhủ rằng mình sẽ hủy nó sau đó.

Chắc là như thế thì sẽ không có ai sử dụng chúng nữa, tôi tự thuyết phục mình.

Tôi biết rằng tôi đã quá ngây thơ...

*

20 giờ

Tôi để khẩu súng và thuốc phiện vào ngăn để găng trong xe và lái về hướng khách sạn. Không cần phải bật GPS để đi ngược lại đường lúc nãy : A1, hướng ra cổng nhà thơ,...

Khỉ thật.

Tôi vừa mới bỏ qua một ngã rẽ một cách ngu ngốc. Rượu cognac đang gây phiền toái cho tôi. Bất chợt, tôi không còn nhớ rõ tên đường nữa. Giữa cổng Clignancourt và cổng Clichy, tôi tiếp tục lái vào các đại lộ Maréchal khoảng 500 m.

Khu vực này không mấy sáng sủa. Dưới ánh sáng nhợt nhạt của những tấm biển quảng cáo, một nhóm gái gọi đang kiếm khách. Một vài chiếc xe dừng lại đột ngột : cửa kính hạ xuống, những gã trai ra giá, rồi sao khi có câu trả lời, lại lái đi với một cô nàng trên xe. Hoặc là không. Đèn trước mặt tôi vừa chuyển sang màu đỏ. Tôi bị mắc kẹt trước một chiếc nhà xe. Một cô gái phía Đông, váy ngắn và bốt da, gõ vào cửa kính xe của tôi và quyến rũ tôi. Ban đầu tôi thử bỏ qua, nhưng cô ta thực hiện một đoạn nhỏ vũ đạo của Moulin-Rouge. Đôi mắt cô buồn bã và trống rỗng. Cô làm tôi thấy tội nghiệp và tôi quyết định hạ cửa kính xuống để khen tặng cô về bài nhảy.

Tôi biết, rằng tôi đã thật ngây thơ...

*

Hai chiếc xe cảnh sát đến một cách nhanh và bất thần, hai mươi mét đằng sau tôi. Trong ít hơn ba giây, con đường rung lên bởi những tiếng còi xe kéo dài. Các cảnh sát đã lấy còng tay ra, thể hiện lòng nhiệt tình trong một buổi tối giao thừa, đưa các cô gái lên xe, kiểm tra lý lịch của những khách hàng của họ.

Trong khi tôi đóng cửa kính lại, một dáng người phụ nữ đột ngột mở cửa xe của tôi và ngồi vào ghế hành khách.

- Khởi động xe hoặc là chú sẽ bị bắt giam ! Cô ta hét lên trong hoảng loạn.

- Đó là một cô bé gái. Một thiếu nữ khoảng mười lăm tuổi.

Một ả gái gọi ? Vào cái tuổi này ư ?

- Chạy đi, khốn thật ! Cô hét lên.

Tôi đã tự đưa mình vào hoàn cảnh nguy nan nào vậy ? Tôi đã có khoảng hai gram alcool trong máu, tôi có một khẩu súng, một túi chứa đầy thuốc phiện trong ngăn để găng và một cô bé vị thành niên ngồi trong xe của mình.

Tôi sẽ phải vào tù và ở trong đó rất lâu.

Tôi thậm chí không đợi đến khi đèn xanh và ngay lập tức rẽ ngay vào con đường đầu tiên.

thay đổi nội dung bởi: hagiang1310, 07-01-2012 lúc 07:34 AM
hagiang1310 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 13-12-2011, 01:42 PM   #23
daibefore
Thành viên mới
 
Tham gia ngày: Apr 2010
Bài gởi: 1
Xin cảm ơn: 3
Thanked 4 Times in 1 Post
Default

Cám ơn bạn nhiều lắm, mình là fan ruột của Guillaume Musso nè , mình sẽ rủ bạn bè vào Topic của bạn và nhấn thanks cho bạn, bạn hãy tiếp tục dịch thêm đi,bạn dịch hay lắm , iu bạn nhiều lắm ^^
daibefore vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 02-01-2012, 06:27 PM   #24
hagiang1310
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 40
Xin cảm ơn: 13
Được cảm ơn 261 lần trong 40 bài
Send a message via Yahoo to hagiang1310
Default

Trích:
Nguyên văn của daibefore View Post
Cám ơn bạn nhiều lắm, mình là fan ruột của Guillaume Musso nè , mình sẽ rủ bạn bè vào Topic của bạn và nhấn thanks cho bạn, bạn hãy tiếp tục dịch thêm đi,bạn dịch hay lắm , iu bạn nhiều lắm ^^
Cảm ơn bạn nhiều lắm, và cả mấy bạn đã nhấn thanks cho mình nữa. Hiện tại mình đang đi học bài vở bận rộn nhiều quá nhưng mình hứa sau khi thi xong (sau Tết) mình sẽ dịch truyện trở lại. Cảm ơn các bạn đã ủng hộ
mình và xin lỗi vì đã để các bạn đợi mình quá lâu

thay đổi nội dung bởi: hagiang1310, 03-01-2012 lúc 04:42 AM
hagiang1310 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 29-01-2012, 12:12 AM   #25
hagiang1310
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 40
Xin cảm ơn: 13
Được cảm ơn 261 lần trong 40 bài
Send a message via Yahoo to hagiang1310
Default Chương 19**

Bằng tốc độ nhanh nhất, tôi trở lại đại lộ Porte-de-Saint-Ouen và hòa vào dòng lưu thông đó.

- Cháu đang chơi cái trò gì vậy ? Tôi hỏi cô gái đang ngồi cạnh mình.
- 'just wanna escape these fucking cops' (chỉ là muốn thoát khỏi bọn cớm khốn kiếp đó thôi), cô gái trả lời bằng tiếng Anh với một ngữ âm khó xác định.

Tôi mở đèn ở mui xe và tận dụng lúc luồng giao thông chậm lại để quan sát cô gái. Đó là một cô bé khoảng mười lăm tuổi, với dáng vẻ mỏng manh và khó nắm bắt. Tóc cô đã được nhuộm đen nhưng vẫn còn vài sợi màu đỏ son. Phần mái quá dài không ngừng phủ xuống đôi mắt cô. Cô mặc một chiếc quần jean bó, mang giày Converse da và một chiếc áo T-shirt bạc màu, khoác bên ngoài là một chiếc áo pull có nón màu hồng xám, trên đó có thêu huy hiệu của đội bóng Manchester United. Một viên kim cương bé xíu sáng lấp lánh trên cánh mũi trái của cô còn trên cổ là một sợi dây chuyền phong cách thời Trung đại bằng bạc và pha lê màu hồng lựu. Phong cách trang điểm gothic – dùng phấn và chì kẻ mắt màu đen trên nền da nhợt nhạt – làm cho cô trông giống như một xác chết, nhưng lại gợi lên một vẻ gì đó có giáo dục.

Tôi nhìn vào đôi giày của cô gái : chúng gần như là mới. Cô nhỏ này mặc quần áo đồ hiệu và đeo cả trang sức. Đây không phải là một đứa trẻ bụi đời, thậm chí có thể là một tiểu thư giàu có.

Tôi không biết mình phải làm gì. Tôi không thể bỏ mặc cô bé ở giữa đại lộ. Đáng lẽ tôi cần phải được biết nhiều hơn, nhưng có vẻ như cô nhỏ không phải là người thích nói nhiều. Tôi lái vào ngã rẽ đầu tiên dẫn đến trạm Montreuil và dừng lại ở một bãi đỗ xe.

- Cháu tên là gì ? Tôi hỏi bằng tiếng Anh.
- Điều đó có liên quan gì đến chú à ?
- Nghe này, chính CHÁU đã leo lên xe chú và chú đã không hỏi han gì, vậy thì cháu có thể lùi một bước chứ, OK ?

Cô bé nhún vai, quay đầu lại

- Alice, cô bé thở hắt ra. Alice Kowalsky.
- Cháu ở đâu ?
- Cháu không thấy điều này có dính líu gì đến chú cả.
- Tại sao cháu lại sợ mấy cảnh sát lúc nãy ?
- Còn chú ? Cô bé vặn lại.

Hết đường, tôi đành chống chế :

- Chú đã uống hơi nhiều, vậy thôi.

Vào lúc đó, nắp của ngăn đựng găng mà tôi đã không đóng kĩ rơi xuống và bật ra. Việc nhìn thấy súng và thuốc phiện trong đó làm cô bé sợ hãi. Cô mở cửa để chạy trốn, vì nghĩ rằng mình đã rơi vào tay một tên côn đồ.

- Đợi đã, không phải như cháu nghĩ đâu ! Tôi nói trong khi chạy theo cô bé trong bãi xe.
- Để cháu đi, cô bé đáp lời trong khi tìm chỗ ẩn nấp trong trạm xe.

Tôi đốt một điếu thuốc và quan sát cô bé qua cửa kính. Cô ngồi lên một chiếc ghế gần những chiếc máy bán tự động. Cô bé này là ai ? Cô bé đang tìm cách chạy trốn khỏi điều gì ? Ngay lúc đó, tôi đã có ý định trở lại xe của mình và rút lui khỏi chuyện này. Tất cả những chuyện này chẳng liên quan gì đến tôi. Ngoại trừ những rắc rối thêm vào, tôi chẳng được lợi lộc gì từ chuyện này cả.

Tôi thở hắt ra, nhưng rồi vẫn quyết định đến gặp cô bé. Trạm xe được trang trí bằng những vật dụng dành cho lễ hội : những nhánh tầm gửi nhấy nháy, cây thông, những quả châu Noël bằng nhựa. Một bản nhạc cũ kĩ từ những năm 80 đang được phát trên radio.

- Cháu mời chú một tách espresso được chứ ?
- Cháu không có xu lẻ, cô bé vừa nói vừa lắc đầu.

Tôi lấy ví ra để tìm tiền lẻ.

- Cháu muốn gì không ? Tôi hỏi trong khi cho tiền vào máy.
- Muốn chú để cho cháu được yên.

Tôi cố gắng thuyết phục cô bé.

- Nghe này, chúng ta đã bắt đầu từ những điều không đúng.
- Giờ thì chú im lặng đi, cháu có thể tự mình xoay sở.
- Bằng cách nào ? Cháu không có tiền và không thể nói nổi một từ tiếng Pháp. Chú không thể để cháu một mình như vậy được. Đó là trách nhiệm của một người trưởng thành.

Cô bé ngước mắt lên trời, nhưng cuối cùng cũng cầm lấy tiền mà tôi đưa. Đến gần chiếc máy bán nước tự động, cô bé chọn một chai sữa nhỏ vị dâu và một gói bánh quy Oreo. Trong lúc cô bé ngồi ăn, tôi cất đi tấm bản đồ tàu điện ngầm đang nằm sẵn trên bàn.

- Nhìn này, có hình chú trong tờ báo này. Giống như cháu đang thấy, nó không phải nằm trong mục tin vắn.

Cô bé nhìn vào bài báo rồi ngước mắt lên.

- Cháu đã từng trông thấy chú trên tivi ! Chương trình mà trong đó chú nổi giận với những người ăn chay !

Cô bé đang đề cập đến cuộc đấu tranh mà tại đó tôi đã chống đối lại những nhà hoạt động khá quyền lực luôn tìm cách để ngăn cấm việc dùng gan ngỗng tại Mỹ.

- Nếu chú là một ngôi sao, chú đang làm gì với những ả gái điếm chỉ đáng 20 euros, vào đêm giao thừa, với ngăn đựng găng chứa đầy ma túy ? Cô bé hỏi với sự khiêu khích.
- Nào, theo chú, tôi bảo cô bé.

Cầu Chúa ban phúc lành cho ngành truyền thông. Sự nổi tiếng của tôi đã khôi phục đôi chút niềm tin của cô bé và, vẫn giữ một khoảng cách nhất định, cô bé chấp nhận đi theo tôi đến chiếc BMW.

- Trước tiên, chú không phải là khách hàng của những cô ả kia và cháu biết rõ điều đó, nếu không cháu đã không lên xe chú, ngay cả khi là để trốn cảnh sát...

Cô bé không trả lời, chứng tỏ là tôi đã lấy thêm được một điểm.

- Tiếp theo, những thứ gây nghiện này không phải của chú, tôi giải thích trong khi lấy một túi bọc nhựa và vứt nó vào một trong những thùng rác công cộng của bãi đỗ xe. Đây là một câu chuyện phức tạp, nhưng chú buộc lòng phải chấp nhận để có thể lấy được khẩu súng lục này.
- Vậy thì thứ vũ khí này dùng để làm gì ?
- Chỉ để tự bảo vệ mình thôi.

Cô bé chắc chắn là người Mỹ, bởi vì cô chấp nhận lời giải thích này không một chút phản đối.

- Rồi, giờ thì đến lượt cháu. Nói cho chú biết cháu là ai và cháu ở đâu, nếu không chú gọi cảnh sát đấy.
- Cháu đã làm một chuyện ngu ngốc, cô bé bắt đầu nói. Một cuộc bỏ trốn, chỉ vậy thôi. Cháu sống ở New York, nhưng cháu đang đi nghỉ với ba mẹ. Gia đình cháu có một ngôi nhà ở Côte d'Azur.
- Đó là đâu ?
- Ở Cap-d’Antibes.

Tôi biết rõ nơi đó. Đó chính là nơi tôi có nhà hàng « đúng nghĩa » đầu tiên của mình.

- Cháu muốn về nhà, nhưng người ta đã lấy cắp túi xách của cháu trên TGV (tàu tốc hành) và cháu không còn cả điện thoại cả ví tiền.

Cô bé có vẻ thành thật, ngay cả khi có một cái gì đó khá khập khiễng mà tôi cũng không hiểu tại sao.

- Hãy gọi cho ba hoặc mẹ cháu nếu như chú không tin !

Cô bé đưa cho tôi một số điện thoại để tôi gọi. Chỉ sau một hồi chuông, tôi gặp một bà Kowalski nào đó trả lời điện thoại giống như đã được định sẵn. Bà ta đã khẳng định lại tất cả câu chuyện : con gái bà ta đã bỏ trốn sáng nay sau một trận cãi vã. Nỗi lo sợ của bà ta thật rõ ràng, ngay cả khi bà cố gắng không biểu lộ sự hoảng hốt.

Tôi đưa máy cho Alice để trấn an bà ta. Không muốn trở thành người thiếu tế nhị, tôi ra ngoài hút một điếu thuốc, chống khuỷu tay lên mui xe, nhưng tôi nghe được phần lớn cuộc trò chuyện. Họ nói chuyện rất lâu qua điện thoại. Alice xin lỗi và rơi nước mắt. Khi cô bé đưa điện thoại lại cho tôi, tôi đề nghị bà Kowalski để mình đưa cô bé về nhà. Tôi chỉ phải « đi xuống phía Nam » vì đám tang của cha và tôi có thể đến Antibes vào buổi sáng.

Bà ta do dự một hồi lâu nhưng cuối cùng cũng đồng ý.

*

Chúng tôi đã đi được nửa giờ.

Dưới tiết trời xám xịt và những bông tuyết, chúng tôi đã lên đường cao tốc Mặt Trời và vừa mới đi qua Évry. Alice đang chìm đắm trong những tờ báo Mỹ mổ xẻ chi tiết những mặt trái nghề nghiệp cũng như đời sống riêng tư của tôi.

- Vợ chú thật là đẹp... cô bé nói trong khi nhìn chăm chú vào một bức ảnh của Francesca.
- Ừ, đây là câu nói mà chú được nghe ít nhất một lần mỗi ngày từ mười năm qua...
- Và điều này làm chú mệt mỏi sao ?
- Cháu cũng biết rồi đó.
- Tại sao ?
- Nếu cô ấy không đẹp như vậy, có thể cô ấy đã không lừa dối chú.
- Cháu nghĩ là điều đó chẳng liên quan gì cả, cô bé nhận xét một cách già dặn hơn so với tuổi 15 của mình.
- Tất nhiên là có chứ. Cháu càng xinh đẹp, cháu càng nhận được nhiều lời khen, và nhiều sự cám dỗ hơn. Điều đó là tự nhiên...
- Nhưng đó cũng là điều tương tự đối với chú, không phải sao ? Trong những chương trình của mình, chú vào vai một bếp trưởng quyến rũ mà...
- Không ! Tôi ngắt lời cô bé. Nó không giống như vậy. Chú không phải là người như thế.
- Như thế là thế nào ?
- Cháu làm chú bực mình đấy.
- Câu trả lời hay thật, cô bé nhận xét.

Trước sự im lặng của tôi, cô bé mở radio và dò tần số. Tôi nghĩ rằng cô bé muốn tìm một kênh « âm nhạc của giới trẻ », nhưng cuối cùng cô bé dừng lại ở kênh Nhạc Pháp. Ngay lập tức, Alice bị cuốn theo bản nhạc : một bản piano thanh lịch và tinh tế.

- Thật là hay, tôi nói.
- Schumann, Davidsbundlertanze, bản số 6.

Tôi tin là cô bé đã mặc kệ tôi cho đến khi bản nhạc kết thúc và khi người giới thiệu cất tiếng nói :

« Các bạn đang lắng nghe Maurizio Pollini với nhạc phẩm Davidsbundlertanze của Rober Schumann. »

- Tuyệt vời !

Cô bé tỏ ra khiêm tốn.

- Cũng dễ thôi mà.
- Chú không biết gì về Schumann. Dù sao thì chú cũng chưa bao giờ nghe những bản nhạc này.
- Chúng được dành cho Clara Wieck, cô gái trẻ mà ông ấy yêu thương.

Cô bé im lặng một lát trước khi đưa ra nhận xét :

- Đôi lúc tình yêu phá hủy, đôi lúc nó lại kết tinh trong những tuyệt tác nghệ thuật...
- Cháu chơi piano à ?

Cô bé ngừng một lúc trước khi trả lời. Một biểu hiện của sự kiềm chế mà cô bé đã thể hiện rất nhiều lần trong đêm nay, giống như cô bé lúc nào cũng sợ mình sẽ cư xử một cách vụng về hoặc là sẽ nói ra quá nhiều điều riêng tư bí mật.

- Không, cháu chơi violon (vĩ cầm). Âm nhạc là niềm đam mê của cháu.
- Thế còn trường học, cháu học ổn chứ ? Cháu đang học lớp mấy ?

Cô bé cười :

- Đủ rồi, chú đừng tưởng rằng có thể ép cháu nói chuyện được.
- Thế còn cuộc bỏ trốn này, nó là để chứng minh cho điều gì ?
- Lần này thì chính chú là cho cháu bực mình đấy, cô bé nói trong khi quay trở lại với những tờ báo.

*

23 giờ

Alice đã ngủ say từ hai tiếng trước, nhưng đã tình dậy ở Beaune khi chúng tôi vẫn đang đi trên đường A6 về hướng Lyon.

- Đám tang của cha chú dự kiến vào lúc nào ? Cô bé hỏi trong khi dụi dụi mắt.
- Ngày mốt.
- Tại sao ông ấy mất ?
- Chú chẳng biết nữa.

Cô bé nhìn tôi một cách kì lạ.

Chúng tôi đã không nói chuyện với nhau từ mười lăm năm nay, tôi nói với vẻ trốn tránh.

Nhưng bởi vì tôi không hề cảm thấy tội lỗi gì, tôi thú nhận thêm :

- Ba chú có một nhà hàng, La Chevalière, một nơi rất bình thường, tại quảng trường La Libération ở Auch. Cả cuộc đời của mình, ông đã mơ về việc sở hữu một ngôi sao trong Guide Michelin, nhưng chưa bao giờ ông đạt được điều đó.

Tôi lái ra làn xe khác trước khi tiếp tục.

- Mùa hè năm chú mười bốn tuổi, chú làm việc tại nhà hàng như một người phụ tá. Buổi tối, sau khi đóng cửa, chú ở lại trong bếp để thực hiện ý tưởng của mình. Chú đã tạo ra được ba món ăn và hai món tráng miệng mà, cùng với sự thích thú của bếp phó, ba chú đã muốn thêm chúng vào thực đơn. Một cách nhanh chóng, tiếng lành đồn xa, người ta kéo đến nhà hàng để đặc biệt thưởng thức những món ăn đó. Những món ăn của chú. Ba chú không chấp nhận việc bị đứng sau cái bóng của chú. Vào ngày khai giảng, để tránh xa chú, ông đã đăng kí cho chú vào một trường nội trú ở Sophia-Antipolis, phía đông nam của Pháp.
- Điều đó thật khó khăn...
- Phải. Và trong những tháng sau đó, Michelin đã trao cho nhà hàng gia đình chú một sao vì những sáng tạo mới của nó ! Cha chú đã giận chú vô cùng, giống như thể chú đã phá hỏng đi ngày đẹp nhất trong cuộc đời ông ấy.
- Thật là ngu ngốc !
- Đó là bước đầu tiên dẫn đến sự rạn vỡ trong quan hệ của hai cha con.

Cô bé lấy tờ Time Out New York dưới chân mình và chỉ cho tôi xem đoạn cô bé đã khoanh tròn.

- Còn chuyện này, là thật hay chỉ là lời đồn ?
- Đọc hay lái xe, chú phải chọn lựa à...
- Người ta nói rằng chú đã quyến rũ vợ mình chỉ với một cái bánh macaron !
- Đúng là bọn họ đã rút ngắn quá nhiều, tôi cười và nói.
- Kể cho cháu nghe đi !
- Vào lúc đó, Francesca vừa mới đám cưới với một ông chủ ngân hàng. Cô ấy đang đi hưởng tuần trăng mật tại Côte d'Azur trong khách sạn mà chú làm việc. Chú đã yêu cô ấy ngay từ cái nhìn đầu tiên, giống như người ta bị nhiễm virus. Sau đó, vào buổi tối, chú gặp lại cô ấy ở bãi biển, nhưng không có chồng cô ấy. Cô ấy đi dọc theo những ngọn sóng và hút thuốc. Chú đã hỏi rằng cô ấy thích món tráng miệng nào. Cô ấy nói là món gạo sữa vani mà bà cô ấy làm...
- Rồi sau đó ?
- Chú đã trải qua đêm đó bằng việc gọi điện thoại sang Mỹ. Chú đã nói chuyện được với bà cô ấy để lấy được công thức chính xác của món tráng miệng đó, và ngày hôm sau chú đã làm việc cả ngày để làm ra một chiếc bánh macaron vị gạo sữa. Chú đã làm 12 cái và rồi tặng cho cô ấy. Sau đó thì giống như những gì người ta đã nói.
- Chú khá đấy, cô nhỏ đồng thuận.
- Cám ơn cháu.
- Cơ bản, chú cũng giống như Schumann, cô bé đùa. Để làm người mình yêu vui sướng, ông ấy đã viết những bản nhạc. Còn chú, chú làm cho cô ấy những cái bánh macaron !

*

Chalon-sur-Saône, Tournus, Mâcon... Đã là nửa đêm khi chúng tôi nhìn thấy bảng chỉ dẫn : « Lyon : 60 km ».

- Happy New Year, Alice nói.
- Bonne Année (chúc mừng năm mới), tôi đáp lại.
- Cháu đói quá...
- Chú cũng vậy. Mình sẽ dừng lại ở một trạm nghỉ để mua sandwich.
- Bánh mì sandwich ! Cô bé kêu lên. Cháu đón mừng năm mới với bếp trưởng lớn nhất thế giới và ông ấy lại muốn tôi ăn những chiếc bánh sandwich đáng chết gói trong giấy ni lông !

Lần đầu tiên sau một tuần, tôi được một tràng cười thoải mái. Cô bé này có đầu óc thật phong phú.

- Vậy cháu muốn mình làm gì đây ? Chú không thể nấu nướng gì được cho cháu khi ta đang ở trên xe.
- Mình có thể dừng lại ở đâu đó ?

Sau 450 cây số chạy không ngừng nghỉ, cả hai chúng tôi đều đã mệt nhoài.

- Cháu nói đúng : chúng ta xứng đáng được nghỉ ngơi một chút.

20 phút sau, tôi đi theo hướng « Ga Perrache », rồi tiếp tục hướng về trung tâm thành phố, nơi tôi sẽ đỗ xe tại một chỗ dành cho việc chuyển hàng.

- Đi theo chú.

Mặc kệ cái lạnh, thành phố vẫn rất nhộn nhịp : âm nhạc, sự ồn ào, những kẻ nói năng tục tĩu, những gã hát rống lên những bài hát dâm tục,...

- Cháu chưa bao giờ thích ngày 31 tháng 12 cả, Alice nói trong khi kéo khóa chiếc áo gió của mình lên tận cổ.
- Chú cũng vậy.

Tôi đã không đặt chân đến Lyon từ rất lâu rồi. Vào năm 17 tuổi, tôi đã từng làm phụ bếp trong vòng ba tháng tại một nhà hàng gần Opéra, ở góc đường Longue và đường Pleney.

- Đóng cửa rồi, Alice nói khi đến trước nhà hàng La Fourchette bên tay trái.
- Thật ra đó chính là điều chú mong muốn. Vào thời điểm mà chú làm việc, ông chủ đã đóng cửa nhà hàng vào ngày Noël và năm mới.

Ở đầu đường có một ngõ hẹp nối với đường Plâtre. Ở chính giữa vỉa hè, tôi biết có một cánh cửa dẫn đến một cái sân nhỏ, từ đó có thể đi vào nhà bếp. Rõ ràng nó đã được khóa lại, nhưng đêm đó, tôi đã phạm luật đủ nhiều để không bị chi tiết nhỏ này làm cho bối rối.

*
Khu vực bếp của nhà hàng rất hiện đại, hoàn toàn sạch sẽ và ngăn nắp.

- Chú chắc là không có báo động chứ ? Alice hỏi trong khi quan sát một cách lo lắng tấm kính cửa sổ mà tôi vừa mới làm vỡ.
- Nghe này, chú không chắc chắn về gì cả, nhưng nếu điều đó không làm cháu yên lòng, cháu có thể trở lại xe hơi. Cháu chắc là sợ lắm nhỉ.
- Không, cháu không sợ ! Cô bé chống chế.
- Nhưng mà cháu có thể phá phách trong lúc chú nấu nướng thì sao...

Cô bé nhìn tôi với vẻ thách thức.

- OK, cháu sẽ làm mì Ý còn chú thì làm bánh macaron, được chứ ?
- Bánh macaron ? Không, chú không thể. Chú cần ít nhất 24 tiếng để làm ra được thứ bánh này cho đúng với tên của nó. Nếu ta không để chúng trong tủ lạnh, chúng...
- Phải, cháu hiểu : chú không làm thì thôi.

Ánh nhìn của cô bé đã kích động tôi :

- Thôi được rồi. Cháu định làm mì Ý như thế nào ?
- Với sốt pesto, cô bé trả lời trong khi mở một trong những ngăn tủ lạnh. Trong tủ lạnh có rau quế tươi.

Cô bé bắt đầu thu thập nguyên liệu và tôi cũng chuẩn bị phần tôi bằng cách làm nóng lò.

- Đưa chú cái « đít con gà » kia nào! Tôi nói và chỉ vào cái tô đựng salad bằng Inox.

Từ ngữ mà tôi dùng làm cô bé khẽ cười. Nụ cười của cô bé thật là hiếm hoi nhưng cũng rất xinh đẹp.

Trong cái tô đó, tôi cho đường vào, rây vào bột hạnh nhân và cacao. Cô bé thì rửa rau quế trong nước ấm và cắt bỏ ngọn đi chỉ để lấy lá rồi sau đó để cho ráo.

- Grana Padano hay Parmigiano Reggiano ? (2 loại phô mai) Cô bé do dự.
- Parmigiano ! Tại sao cháu lại bỏ trốn ? Tôi bất ngờ hỏi trong khi nhìn cô bé đang nạo phô mai.
- Cháu...cháu có bạn trai ở Paris mà cháu đã gặp trong một chuyến du lịch đến Pháp do trường tổ chức. Cháu muốn đến gặp cậu ấy, nhưng ba mẹ cháu không đồng ý.

Cảm thấy không thoải mái, cô bé trả lời tôi một cách ngắt quãng, trong lúc lựa chọn từ ngữ, cô bé hay gãi mũi và cằm, tránh nhìn thẳng vào tôi. Những dấu hiệu đó làm tôi nghĩ đến việc rằng cô bé đang nói dối.

- Cả hai ta đều biết rằng đây không phải là sự thật đúng không ?

Ánh nhìn của cô bé như đang bám vào tôi, cầu khẩn tôi đừng tìm cách để biết nhiều hơn nữa.

Tôi quay lại với công thức của mình, đổ hỗn hợp bột cacao vào chỗ lòng trắng trứng đã được đánh bông trong khi cô bé trộn trong chiếc tô hỗn hợp phô mai, lá quế, hành, tỏi và dầu ôliu..

Khi hỗn hợp đã được trộn kĩ, tôi cho nó vào túi bắt kem và tạo ra những hình tròn theo dạng bánh macaron.

Cô bé nếm thử món mình chuẩn bị, vừa thêm gia vị và dầu vừa tiếp tục trộn để có được một loại sốt sệt sệt không quá đặc.

- Ai đã dạy cháu làm nó thế ?
- Cháu tự học thôi, cô bé trả lời như một điều hiển nhiên.

Trong khi chờ vỏ bánh cứng hơn, tôi chuẩn bị phần nhân trong khi cô bé luộc mì Ý làm hoàn toàn từ bột mì trong nước sôi.

Trong mấy cái tủ, tôi tìm thấy một loại sô cô la không đến nỗi tệ. Alice nhón lấy một mẩu trong khi tôi lấy ba thanh để chuẩn bị phần kem của mình.

- Để bánh được mịn, chúng cần phải được ở trong tủ lạnh nhiều giờ.

Tôi nhìn đồng hồ. Đã gần 2 giờ sáng.

Tôi nướng bánh macaron đồng thời bật nhỏ nhiệt độ của lò lại.

- Chú vẫn chưa kể cho cháu nghe vì sao chú lại đóng cửa nhà hàng và để cho nó lăn lông lốc như thế, cô bé nói trong khi tự lấy cho mình một ly sữa.
- Phức tạp lắm, cháu không hiểu đâu...

Vào lúc đó, tôi nghĩ về sự tham lam của Win Entertainment, nơi đã buộc tôi phải bán tất cả tài sản của mình để tránh việc phá sản đồng thời đã sở hữu lại cả tên tuổi và công việc của tôi. Từ lúc đó, tất cả nhà hàng thuộc tập đoàn đó đều có quyền đưa những món ăn của tôi vào thực đơn của họ. Cả một quá trình sáng tạo bị lấy đi không chút đắn đo bởi những kẻ ngu ngốc. Sự phá sản của một cuộc phiêu lưu mà tôi đã dâng hiến cả thể xác và tâm hồn mình từ khi tôi chỉ mới mười sáu tuổi...

Có một con dao bằng ngà màu đen nhánh đang nằm trên bàn. Tôi cầm lấy cán của nó và tung nó lên. Con dao làm vài vòng trên không trung trước khi dừng lại ngay chính giữa cánh cửa với một âm thanh khó nghe.

- Chỉ có một « Hoàng đế » (l'empereur).Và Hoàng đế (Lempereur), chính là tôi.

Không nói lời nào, Alice đến gần cánh cửa và rút con dao ra ngay đúng lúc mà tiếng chuông của đồng hồ hẹn giờ báo hiệu bánh macaron đã chín.

*

Tôi đổ một ít nước lên giấy nến và hơi nước giúp cho bánh có thể được lấy ra dễ dàng hơn.

- Thật lành nghề, Alice nhận xét.

Cô bé giúp tôi khéo léo cho nhân vào một nửa số vỏ bánh trước khi úp những chiếc vỏ còn lại lên để tạo thành bánh macaron.

- Để làm đúng cách, ta phải để chúng trong tủ lạnh 24 giờ, nhưng giờ để cho nhanh, ta sẽ để chúng 1 giờ trong tủ đông.

Trong lúc đó, Alice dọn ra hai dĩa mì Ý và chúng tôi đã ăn rất ngon miệng. Trong bữa ăn, cô bé đã kể cho tôi nghe một đống các giai thoại : nào là ở tuổi mười bốn Mozart đã có thể viết lại được phần bí mật của bản Misere d'Allegri dù chỉ nghe qua có một lần, nào là Adagio d'Albinoni không phải là Albinoni, nào là cuối đời Picasso kí tên những bức vẽ của mình lên chính da của những người ngưỡng mộ ông để tránh việc họ sẽ bán chúng lại, nào là trong bài hát Hey Jude của The Beatles, nhóm chỉ chơi có đoạn thứ ba bởi vì Ringo Starr bận đi toalet !

Khi cô bé đã thư giãn và dần tin tưởng hơn, giọng của cô bé thay đổi mà chính cô cũng không nhận thức được. Âm điệu giọng nói trong trẻo hơn, âm sắc cũng cao hơn. Điều này, cô bé làm tôi liên tưởng đến anh em Gallenger (ca sĩ và tay guitar của nhóm nhạc rock Oasis, cả hai đều từ Manchester) và tôi cược rắng cô bé này đã từng sống ở phía bắc nước Anh.

Mặc dù có một lượng kiến thức khổng lồ về văn hóa, nhưng cô bé không phải tỏ ra mình là thông thái, chỉ là luôn tò mò về mọi thứ và có hứng thú muốn chia sẻ về kiến thức của mình. Một đứa trẻ là niềm mơ ước của mọi bậc phụ huynh...
hagiang1310 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 30-01-2012, 12:11 AM   #26
hagiang1310
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 40
Xin cảm ơn: 13
Được cảm ơn 261 lần trong 40 bài
Send a message via Yahoo to hagiang1310
Default Chương 20: Trần trụi

Nỗi đau của tôi đến từ rất xa
Flannery O'Connor

San Francisco
Tối thứ hai
Hai giờ sáng

Trong khi bỏ tai nghe ra, Jonathan nhận ra rằng một dòng nước mắt đang lăn trên má anh. Sự hồi tưởng về những khoảnh khắc của thời kì đen tối nhất trong cuộc đời anh thật là khó khăn.

Cô bé Alice Kowalski mà anh đã gặp trên đường kia liệu có phải là Alice Dixon, nạn nhân của Kẻ sát nhân của Liverpool ?

Mặc dù anh đã kiểm tra và xem xét kĩ lại ngày tháng, có một cái gì đó không khớp lắm. Madeline đã nhận được quả tim của Alice vào ngày 15 tháng 6 năm 2009. Bằng phương pháp xác định tính gia truyền, các phòng thí nghiệm khoa học đã chính thức xác nhận nó là của cô bé bị mất tích. « Không có một nghi ngờ nào hết », thậm chí một báo cáo đã dẫn chứng.

Nhưng Jonathan đã gặp Alice Kowalski vào đêm 31 tháng 12 năm 2009.

Gần sáu tháng sau !

Anh mở nút chai vodka và lại rót cho mình một ly. Vẫn còn sốc vì khám phá của mình, anh cố gắng giữ bình tĩnh, xem xét một cách cẩn thận tất cả những ý tưởng trong đầu mình.

Giả thiết thứ nhất : hai cô bé Alice này không liên quan gì đến nhau. Tất cả chỉ là một sự tình cờ hoặc trùng hợp : cùng một chiếc áo pull lót vải bông, cùng một huy hiệu của đội bóng, cùng một đam mê âm nhạc, cùng một ngoại hình. Thật khó để tưởng tượng, nhưng tại sao không...

Khả năng thứ hai : Alice có một chị em sinh đôi bí mật. Không. Thật ngu ngốc. Tại sao một cô bé được sống trong một gia đình Mỹ giàu có trong khi cô bé còn lại sống trong một khu phố ổ chuột của Manchester ?

Lựa chọn thứ ba. Hai Alice này thật ra chỉ là một. Trong trường hợp này, hoặc là phòng thí nghiệm đã lầm trong việc phân tích ADN của tim (ít khả năng), hoặc là Alice đã trải qua một cuộc cấy ghép tim (cũng không đáng tin, chưa kể đến việc trái tim được đưa đến cho cảnh sát đã không được lấy ra theo các quy tắc phẫu thuật, mà hoàn toàn bị chặt một cách vụng về).

Tình huống cuối cùng : một sự giải thích siêu nhiên, theo dạng một sự hiện thân, nhưng ai sẽ tin vào cái giả thiết ngu ngốc này ?

Jonathan tiếp tục suy nghĩ một vài phút trước khi nhận ra thời gian trôi qua quá nhanh. Anh quay trở lại phòng mình, nơi mà anh cảm thấy mình không thể nào ngủ được. Từ ngày đầu tiên, anh đã có cảm giác điên rồ này rằng cuộc sống của anh và Madeline bị gắn kết bởi một sợi dây vô hình nào đó. Đêm nay, anh đã phát hiện ra mắc xích còn thiếu : Alice.

Madeline, Alice...
Anh nợ những lời giải thích đối với người đầu tiên.
Anh lại mang một món nợ khác đối với người thứ hai.
hagiang1310 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 14-02-2012, 11:43 PM   #27
To Thuy
Thành viên mới
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Nơi Cư Ngụ: Ho Chi Minh
Bài gởi: 10
Xin cảm ơn: 115
Được cảm ơn 14 lần trong 8 bài
Default

Dịch tuyệt quá, cám ơn nàng nhá! Tiếng Pháp ngoài je t'aime thì không biết đến nửa câu chữ nào nên đành ôm topic đợi nàng dịch đây, cố gắng lên nhé! ^_^
__________________
Everything will pass, the love will be vanished and the heart will forget...
To Thuy vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
hagiang1310 (19-02-2012)
Old 19-02-2012, 08:35 PM   #28
hagiang1310
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 40
Xin cảm ơn: 13
Được cảm ơn 261 lần trong 40 bài
Send a message via Yahoo to hagiang1310
Default Chương 21: The wild side

Sự cám dỗ không chỉ là nỗi sợ hãi bị cuốn đi.
Đó chính là tiếng nói từ sâu thẳm bên trong,
nó thu hút và lôi kéo ta, là nỗi khao khát một thất bại
mà ta sẽ phải chống lại với một nỗi sợ kinh hoàng.
Milan KUNDERA

Paris, Montparnasse
Thứ 3 20 tháng 12
19h20

Trước tấm gương trong căn hộ của mình, Madeline chỉnh sửa lại trang phục của mình : cô trang điểm một cách sang trọng và cẩn thận, dùng giày cao gót để tôn dáng và mặc đầm lụa đen. Mọi thứ làm tôn lên vẻ đẹp của đôi chân : chiếc đầm không quá ngắn cũng không quá dài, chỉ trên đầu gối một chút. Tối nay, cô tự cho rằng mình đang « làm nhiệm vụ », và theo quan sát từ những cô nàng nóng bỏng đã từng cùng George lên giường, chắc chắn rằng cô phải đủ hấp dẫn nếu cô muốn thành công trong việc bẫy hắn ta.

Cô mặc chiếc áo măng tô bằng vải gabadin mà Raphael đã tặng và rời khỏi căn hộ, tự cảm thấy mình đủ quyến rũ để lừa gạt kẻ thù.

Vào giờ đó, xe cộ qua lại vô cùng tấp nập. Mặc kệ trời lạnh, cô vẫn thích đi metro hơn taxi và vội vàng đi vào bến Raspail.

Montparnasse, Pasteur, Sèvres-Lecourbe... (tên các bến metro)

Đoàn tàu chật ních người. Phần lớn hành khách trở về nhà sau giờ làm, những người khác thì đi ăn tối hay đi xem biểu diễn, những người khác nữa thì đang tất bật chuẩnn bị mua sắm cho Noël. Madeline mở túi xách ra : trong đó có khẩu súng Glock 17 - vũ khí dùng cho công việc trước đây của cô – và một quyển sách nhỏ – Le Cavalier suédois (Kỵ sĩ Thụy Điển), mà người bán sách đã giới thiệu cho cô từ lâu.

Cambronne, La Motte-Picquet, Dupleix, Bir-Hakeim...

Đứng đối diện các dãy ghế, cô quan sát xung quanh mình. Cô cho rằng càng ngày càng ít người đọc sách trên các phương tiện giao thông. Giống như những nơi khác, người ta dán mắt vào màn hình điện thoại, nhắn tin, chơi trò chơi, nghe nhạc. Cô cố gắng tập trung vào quyển truyện, nhưng rồi cảm thấy mình không thể. Quá đông người, thêm cả chen lấn xô đẩy, và nhất là sức nặng của cảm giác tội lỗi đang đè nặng lên vai cô. Từ ngày thứ bảy, cô đã nói dối Raphael. Và những lời nói dối của cô càng ngày càng bớt ngây thơ. Chiều nay, cô đã làm anh tin rằng cô đang trên đường đến dự đám tang của con gái một người bạn. May mắn là anh không hề nghi ngờ hay đề phòng gì, nếu không, đối với anh sẽ không khó để vạch trần cô.

Passy, Trocadéro, Boissière, Kléber,...

Đúng như cô mong đợi, George LaTulip không hề chậm chân trong việc liên lạc lại với cô. Một vài giờ sau vụ « tai nạn », hắn đã gọi đến cửa hàng của cô để đề nghị mời cô ăn trưa. Để kích thích hắn, ban đầu cô giả vờ từ chối, và may mắn thay hắn ta đã nài nỉ, và lần này, cô chấp nhận lời mời ăn tối. Cô biết rõ những kẻ như George. Trong những bài báo phân tích tâm lý trên các tờ tạp chí dành cho phụ nữ, người ta gọi họ là « những chàng trai quyến rũ không kiểm soát được ». Trên thực tế, họ được gọi là những tay sát gái. Chỉ khác nhau ở tên gọi mà thôi...

Cô xuống ở trạm cuối của tàu 6. Ngay khi bước ra khỏi metro, cô bị choáng ngợp bởi vô số những ánh đèn lung linh. Trên hơn hai cây số, từ quảng trường Concorde đến Étoile, hai hàng cây trên đại lộ đẹp nhất thế giới này được trang trí bằng những dãy đèn màu xanh lấp lánh. Ngay cả người Paris lãnh đạm nhất cũng không thể thờ ơ trước sự kì diệu của cảnh tượng này.

Cô kéo lại áo khoác, tiến vào đại lộ Hoche và đi bộ đến nhà hàng Royal Monceau.

Cô thật là xinh đẹp, George chào đón cô.

Hắn đã không làm cô thất vọng. Phòng ăn của tòa nhà được bày trí hài hòa với những hàng cột, những chiếc ghế bành da màu kem, và với sự phối hợp giữa ghế dài bằng kim loại, quầy bar trong suốt,...

- Cô thích cách trang trí chứ ? Hắn hỏi cô trong khi một người phục vụ đưa họ tới một cái bàn nhỏ trong một góc kín đáo.

Madeline lắc đầu.

- Nó được trang trí bởi Starck. Cô có biết rằng chính ông ta cũng « mặc trang phục » cho nhà hàng của tôi chứ ?

Không, cô không biết.

Kể từ lúc đó, cô gần như không nói gì, vui vẻ với việc mình xinh đẹp và đang tươi cười, giả vờ ngưỡng mộ trước sự tán tỉnh của gã George sát gái kia. Bài diễn văn của hắn thật trôi chảy. Một cách thoải mái, hắn thể hiện màn đối thoại của cả hai người, hắn nói về những chuyến du lịch, về những môn thể thao khó nhằn mà hắn đã thử chơi, về David Guetta và Armin van Buuren mà hắn « đặc biệt quen biết », về khung cảnh đêm của Paris mà theo hắn là « buồn, đau thương và gần như chết chóc ».

- Đúng là đặc biệt nghiêm trọng : không còn một văn hóa ngầm đúng nghĩa ở thủ đô. Những DJ tên tuổi và sáng tạo nhất đã di cư hết sang Berlin hoặc Luân Đôn. Nếu cô thật sự muốn tiệc tùng, hôm nay, cô phải lên máy bay ngay !

Madeline nghe một cách thờ ơ những lời mà có lẽ hắn đã nói đi nói lại cả trăm lần. Khi người phục vụ mang đến cho họ món ăn – trứng luộc với tôm càng và nấm, thịt bê sốt với cà rốt... - cô nghĩ đến việc Jonathan sẽ nghĩ gì nếu anh ở đây.

Sau khi đã thưởng thức xong món tráng miệng – một chiếc bánh mille-feuille sô cô la chanh ngon tuyệt - , cô đồng ý đi uống một « ly cuối cùng » tại nhà George.

Cô ngồi vào ghế hành khách của chiếc Porsche mà người lái xe vừa lái đến. Trước khi khởi động xe, LaTulip xoay người về Madeline và ôm hôn cô.

Chắc chắn rồi, những tên này chả e ngại gì cả.

Cô cười với hắn, tỏ vẻ yêu thích điều đó và đáp trả lại nụ hôn của hắn.

*

Vào lúc đó, ở San Francisco...

Đồng hồ ở sân bay chỉ đúng 12 giờ trưa. Jonathan ôm lấy con trai và đặt cậu bé xuống đất. Vé máy bay cầm trên tay, anh đưa mắt về phía Marcus.

- Nào, tôi giao Charly cho cậu trong hai ngày. Alessandra ở lại trong thành phố vào kì nghỉ, cô ấy có thể đến giúp cậu. Về phần nhà hàng, tôi đã hủy tất cả những lời đặt chỗ cho đến hết tuần.
- Cậu chắc là mình sẽ bay đến đó chứ ?
- Chắc chắn.
- Tôi hoàn toàn mù mờ về thứ cậu sẽ tìm kiếm ở Luân Đôn.
- Thật ra, tôi sẽ đến Manchester. Chắc chắn là tôi phải gặp ai đó, và tôi phải kiểm tra hai hay ba điều...
- Và điều đó không thể đợi được sao ?
- Không.
- Cậu không muốn giải thích cho tôi nghe à ?

Jonathan tỏ vẻ lẩn tránh :

- Tôi có một món nợ phải trả, những bóng ma phải đuổi bắt, một vài góc tối cần được soi sáng...
- Chúng có liên quan đến người phụ nữ đó, Madeline Greene ?
- Tôi sẽ kể cho cậu nghe khi tôi nhìn rõ được mọi chuyện. Trong lúc chờ đợi, hãy chăm sóc Charly.
- Tất nhiên rồi.
- Đối với cậu, đó là không uống một giọt rượu, không có gái điếm trong nhà, không có ồn ào, tụ tập, những thứ thô thiển, dơ bẩn, và...
- Tôi chắc là tôi đã hiểu rồi.
- Và đối với cậu bé, đó là đánh răng vào buổi sáng, trưa và tối, không có phim hay hoạt hình bạo lực, không có truyền hình thực tế, không có đồ ăn vặt mỗi năm phút, ít nhất 5 loại trái cây hoặc rau củ mỗi ngày, mặc đồ ngủ và lên giường vào lúc 20 giờ.
- Hiểu rồi.
- Mọi thứ đã rõ hết chứ ?
- Rõ như ban ngày vậy, Marcus trả lời, làm cho Charly phì cười.

Jonathan lần lượt siết chặt từng người trong vòng tay một lần cuối trước khi tiến vào phòng cách ly.

Chuyến bay của British Airways về hướng Luân Đôn cất cánh từ San Francisco lúc gần 13 giờ. Nhìn qua ô cửa, Jonathan cảm nhận được một vết cứa trong tim.

Liệu có phải là một ý hay khi không dành thời gian với con trai mà anh chỉ được gặp vào dịp nghỉ lễ Noël ? Chắc chắn là không. Tuy nhiên anh tự bắt mình phải xóa bỏ những đắn đo. Hiện tại, anh đã không thể quay lại được nữa. Anh phải hiểu, phải đi đến tận cùng của bí ẩn, bên cạnh những kí ức và những điều còn mù mờ. Sau Madeline, đến lượt anh phải đối mặt với bóng ma của Alice Dixon.

*

Paris

George mời Madeline vào trước trong chiếc thang máy nhỏ. Hắn đóng cửa lại, ấn nút lên tầng 5 và dán lưỡi mình vào miệng cô gái trẻ. Một tay hắn hướng về ngực cô trong khi tay kia đang lần mò cởi chiếc áo đầm của cô.

Madeline cảm thấy cổ họng mình thắt lại, nhưng cô đã giữ được cảm giác khó chịu. Cô ở đây để làm nhiệm vụ.

Làm NHIỆM VỤ.

Căn nhà của George chiếm hai tầng trên cùng của tòa nhà. Được bố trí như một cái lồng, đó là một căn hộ hiện đại với cách trang trí tối thiểu với chút nhấn nhá theo kiểu công nghiệp. Một cái cầu thang bằng thép nối hai tầng với nhau.

George cởi áo măng tô của khách mời ra và lướt nhẹ qua một công tắc bằng thủy tinh làm âm nhạc bật lên ngay tức thì :

- Em thích chứ ? Đây là Progressive Trance được mix bởi một người Đan Mạch : Carl Karl, ông hoàng âm nhạc ở Berlin. Đối với tôi giống như một Mozart mới vậy.

Còn anh thì thật là ngu ngốc, Madeline nghĩ trong đầu khi tặng cho hắn nụ cười dễ thương nhất.

Bây giờ khi chỉ còn có hai người, cô cảm thấy khó chịu. Tim cô đập mạnh trong lồng ngực. Cô có chút sợ hãi về những điều sắp xảy ra. Một phần trong cô muốn mình đang ở một nơi khác, với Raphael, trong sự tiện nghi êm ái tại nhà của anh. Nhưng mặt khác trong cô, một phần nguyên vẹn khác, cảm nhận được một sự phấn khích tột cùng dưới tác động của hiểm nguy.

- Em làm cho anh một ly Pink Pussy Cat nhé ? Cô đề nghị trong khi tiến ra sau quầy bar.

Khi nghe thấy từ pussy (âm hộ), George lè nhè một cách thỏa mãn. Hắn đi đến sau lưng cô, đặt tay lên hông cô trước khi lại đưa chúng lên ngực cô.

- Chờ đã, anh yêu, em sẽ cởi ra hết mà ! Cô nói trong khi nhẹ nhàng lách ra.

Cô chộp lấy hai cái ly và đồ đầy đá vào đó.

- Tôi có quà cho em đây ! Hắn nói trong khi lấy từ túi ra hai viên nén nhỏ màu hồng được tô điểm bởi một ngôi sao.

Là thuốc lắc...

Cô lấy một viên và nháy mắt với hắn.

- Anh phải giảm ánh sáng đi chứ, cô đề nghị trong khi giả vờ như đã nuốt viên thuốc.

Cái thứ gây u mê này sẽ phá hỏng hết kế hoạch của cô.

Cô nhanh chóng rót vodka vào hai cái ly mà cô đã cho nước bưởi hồng và một ít xirô lựu. Cô tận dụng một phút không để ý của George để cho vào ly của hắn một lượng Rohypnol, một loại thuốc gây mê đủ mạnh mà các tên trộm hay sử dụng.

- Cạn ly ! Cô nói khi đưa hắn ly Pink Pussy Cat.

Chúa phù hộ, không cần mất công năn nỉ để George nốc cạn ly cocktail, nhưng ngay khi hắn bỏ ly xuống, hắn đẩy Madeline xuống một chiếc ghế nhỏ bọc vải đen lốm đốm.

Hai tay hắn ôm lấy đầu cô, đưa môi cô về phía môi hắn để mang lại một nụ hôn mà theo hắn là đầy xúc cảm. Hắn đưa lưỡi vào miệng cô, cởi chiếc đầm của cô cho đến khi để lộ ra áo ngực rồi cởi chúng từ phía trên, vuốt ve ngực cô, mút rồi cắn vào núm vú cô.

Cô cảm thấy khuôn ngực của mình như bị nén lại. Cô thấy khó thở. Cơ thể của George dán vào người cô thật nặng nề, thô bạo, tỏa ra một sức nóng và một mùi khó chịu. Nước bọt của hắn nóng và mặn gây cho cô cảm giác khó thở và buồn nôn. Một cách phấn khích, George chi phối cô, ghì lấy cổ cô, cảm giác như hắn đang trong lốt một con sư tử trước khi ngấu nghiến một con linh dương. Cô bị bóp nghẹt và cùng lúc đó, cô cũng đã đồng ý. Không ai ép buộc cô đến cả. Cũng không có ai ép cô ở lại. Cô có thể kết thúc trò chơi chỉ với một lời nói hay một tiếng hét, nhưng cô đã không làm gì cả.

Để chống lại, cô tập trung vào những thứ xung quanh cô, tập trung vào tiếng động của một tron những chiếc giày của hắn rơi xuống sàn, nhìn chằm chằm lên trần nhà được rọi sáng bởi đèn pha của những chiếc xe hơi chạy trên đường.

Khuôn mặt của tay chủ nhà hàng dán lên mặt cô. Hắn rời bỏ ngực cô để bắt đầu mân mê hai tai cô.

- Em thích chứ ? Hắn thì thầm.

Cô đáp lại bằng một tiếng rên, cảm thấy một sự cương cứng ở phần hông của mình. Bằng một cử chỉ mạnh mẽ, George nắm lấy tay cô và đặt nó lên chỗ ấy của hắn. Madeline nhắm mắt lại và cảm thấy như có hương vị của máu trong miệng mình.

Tìm kiếm. Biết chắc. Thấu hiểu.

Điều tra.

Đó đã là quy tắc của cô từ khi vừa bước chân vào ngành cảnh sát. Cô đã từng là một cảnh sát, cô vẫn là một cảnh sát. Đó là bản chất thật sự của cô. Một ý nghĩ đã khắc sâu vào tâm trí cô và lan tỏa khắp người cô như một căn bệnh.

Những ngón tay của George bây giờ đang tiến xuống bụng cô, vuốt ve đùi cô, mân mê phần dưới.

Madeline quay đầu về phía tấm gương lớn trong phòng khách và thấy đôi mắt mình đang sáng lên trong đêm tối. Hương vị của sự cám dỗ, sự mơ hồ của bạo lực, sự cần thiết phải vượt qua ranh giới : phần đen tối mà cô đã kìm nén trong hai năm nay trở lại ngay tức khắc trong cô như một chiếc boomerang. Những kí ức và những cảm giác xưa cũ hiện về ngay trước mắt. Việc gắn liền với nguy hiểm, đây sự phụ thuộc mà nghề này mang lại. Khi cô đối diện với một tên tội phạm nguy hiểm, rất ít thứ có thể cạnh tranh lại khao khát làm việc của cô. Không phải những kì nghỉ, những buổi dạo chơi với bạn bè, thậm chí là quan hệ tình dục. Những cuộc điều tra biến cô trở thành người lập dị, , những bí ẩn đã nuốt chửng lấy cô. Ngày xưa, khi cô đụng phải những vụ việc nghiêm trọng, cô « ở » luôn tại sở cảnh sát, ngủ trong chiếc xe hơi đỗ ở gara hay thậm chí trong những song sắt giam những đối tượng bị tình nghi. Buổi tối hôm đó thì khác. Ít nhất là trên bề mặt. Chắc chắn, không có cái chết nào cả, nhưng bản năng của cô mách bảo phải bám riết theo. Francesca như trở thành nỗi ám ảnh của cô : cái gì có thể khiến người phụ nữ này phá bỏ mối quan hệ vợ chồng và làm tan vỡ gia đình của họ ? Một cách cư xử như vậy chắc chắn ẩn chứa một điều gì đó rất nghiêm trọng...

Một lúc lâu sau, những ngón tay của George vẫn nán lại trên cơ thể cô, mân mê phần vải bị ướt của áo ngực cô trước khi mất dần sự linh hoạt. Khi cô cảm thấy cơ thể « người tình » của mình đổ gục xuống người cô, cô thoát ra và lách khỏi chiếc ghế như một người thợ phải gấp rút quay về với công việc của mình. LaTulip nằm trên ghế sopha, mụ mị đi vì thuốc mê. Cô kiểm tra để biết chắc rằng hắn vẫn còn thở. Cô hi vọng rằng sự kết hợp giữa thuốc mê và thuốc lắc sẽ không gây ra tác dụng gì có hại.

*

23 giờ

Đừng để mất thời gian. Phải làm việc. Ngay tức khắc.

Madeline bắt đầu công việc một cách khoa học. Căn hộ này ẩn chứa một bí mật, cô chắc chắn như thế. Trước tiên cô tắt đi thứ âm nhạc ồn ào làm cô khó chịu, mở hết tất cả các đèn và bắt đầu tìm kiếm.

Căn hộ khá lớn, nhưng có vẻ trống rỗng. Hoặc gần như, mọi thứ đều có chỗ của nó. George là một người tì mì và chắc chắn hắn có thuê một người dọn phòng. Hắn có một phòng thay đồ rộng lớn mà bất cứ cô gái nào cũng ao ước. Trong phòng đọc và trên các kệ, mọi thứ đều được sắp xếp gọn gàng : dụng cụ thể thao, thiết bị hi-fi đời mới nhất, hàng trăm đĩa DVD, một vài quyển sách,... Madeline lục lọi mọi nơi, mở những gì có thể, lật tung mọi ngóc ngách. Kĩ năng này vẫn không hề bị mai một. Cô không biết chắc cái mình tìm là gì, nhưng cô biết rằng có một cái gì đó cần phải được tìm thấy. Có thể là trong đống giấy tờ mà LaTulip để trong những bìa sơ mi chăng ?

Cô kiểm tra để chắc rằng George vẫn đang ngủ mê, lấy khẩu súng Glock ra phòng trường hợp hắn bất ngờ tỉnh dậy và ngồi vào bàn hắn để xem xét những loại giấy tờ : sao kê ngân hàng, bản khai thuế, hóa đơn tiền điện, hợp đồng nhà đất và sở hữu tài sản. Cuộc « tìm kiếm » này mất một giờ mà chẳng dẫn đến điều gì mà cô chưa từng biết. Tay chủ nhà hàng này có những nguồn phụ thu với tư cách quản lý, nhưng trên hết là giám đốc của tập đoàn DeLillo.

Madeline bực mình vì đã không tìm kiếm được gì.

Thời gian trôi qua thật nhanh.

Vẫn còn chiếc máy tính xách tay bằng nhôm đặt trên chiếc bàn thấp ngoài phòng khách. Cô mở nó lên một cách thận trọng. Khi cô còn là cảnh sát, cô đã có khả năng phân tích nội dung các ổ đĩa với một phương pháp đặc biệt, nhưng khả năng tin học của cô lại khá hạn chế. May thay, chiếc máy tính đã được khởi động, điều này đã giúp cô đỡ phải truy tìm mật mã để đăng nhập vào. Cô thực hiện hai ba thao tác cơ bản, kiểm tra những tập tin ngoài màn hình, xem xét thư mục hình ảnh - nơi chứa đầy các hình ảnh về việc lặn biển –, kiểm tra lịch sử những trang web. Cô lướt nhanh những thư điện tử có trong hộp thư, nhưng vẫn không tìm thấy điều gì hay ho.

Điều tra là nhấn mạnh.

Không nản chí, cô lục lọi phần mềm nhắn tin. Tài khoản của George được thiết lập với giao thức IMAP. Madeline cũng làm vậy với tài khoản của mình, điều này giúp cô có thể vừa kiểm tra email trên điện thoại và cả máy tính cá nhân của mình. Không cần phải là một chuyên gia tin học để biết rằng, trong trường hợp này, tất cả những tin nhắn đều được lưu trữ ở máy chủ, ngay cả những tin mà người dùng tưởng rằng mình đã xóa.

Madeline tiếp tục dạo một vòng qua phần lưu trữ của tài khoản. Có hàng ngàn tin nhắn, được gửi và nhận trong nhiều năm. Cô gõ nhiều từ khóa khác nhau cho đến khi tìm ra được cái thư mà cô chờ đợi. Bằng chứng rằng cô đã đi đúng hướng :

Từ : Francesca DeLillo
Đến : George LaTulip
Chủ đề : Trả lời :
Ngày : 4 tháng 6 2010, 19:47

George, em xin anh, hãy hủy bỏ kế hoạch đi gặp Jonathan ở San Francisco. Chúng ta đã quyết định đúng. Đã quá trễ để hối hận, em tin rằng anh đã hiểu khi đọc báo...

Hãy quên Jonathan và những gì sẽ đến với chúng ta đi. Hãy để anh ấy tự đứng lên.

Nếu anh nói với anh ấy sự thật, anh sẽ đưa cả ba chúng ta vào một tình huống bi kịch và anh sẽ mất tất cả : công việc, căn hộ và cả chút tiện nghi này nữa.

F.


Tin nhắn này rời rạc, nhưng cũng khá thú vị. Không nghi ngờ gì nữa, có những thứ để khám phá khi đọc những dòng này. Cô in bức thư ra, và để chắc chắn hơn, cô gửi một bản đến địa chỉ của mình.

*

1 giờ sáng

Nước đá tạt vào mặt. Rồi đến những cái tát. George mở mắt ngay lúc một chiếc bánh khác bay thẳng vào mặt hắn.

- Cái gì... ?

Hắn đang ngồi, bị buộc chặt bởi chính cà vạt của mình vào chiếc ghế salon. Hắn cố gắng để tự giải thoát, nhưng đôi tay hắn đã bị buộc lại phía sau lưng còn mắt cá thì bị gắn chặt với chân ghế. Cách mặt hắn mười centimet, một ngòi súng tự động đang đe dọa hắn. Hắn phải hoàn toàn biết ơn cô gái mà hắn đã không cẩn thận dẫn về nhà và đang « ăn nguội » hắn.

- Tôi... tôi có thể đưa cô tiền. Có một cái két nhỏ trong tủ quần áo trong đó có ít nhất 20 000 euro.
- Phải, tôi đã tìm thấy tiền của anh rồi, Madeline trả lời trong khi phe phẩy những cọc tiền trước mặt.
- Vậy cô còn muốn cái gì nữa ?
- Sự thật.
- Sự thật về cái gì ?
- Về cái này.

Hắn cúi đầu xuống để nhìn bức thư của Francesca.

- Cô... Rốt cuộc cô là ai ? Tôi tưởng cô chỉ là một người bán hoa và...
- Tôi là người phụ nữ đang cầm súng, thế thôi.
- Tôi không biết cô quan tâm điều gì trong vụ này, nhưng tôi khuyên cô...
- Ở vị trí của anh, tôi tin rằng anh chẳng có gì để mà khuyên tôi cả. Quay lại với bức thư : tại sao anh lại muốn đến gặp Jonathan Lempereur ở San Francisco ?

Vô cùng khó chịu, George đổ mồ hôi rất nhiều. Để buộc hắn phải nói, Madeline gia tăng áp lực, ấn đầu súng lên trán tay chủ nhà hàng.

- Jonathan, đó là người mà tôi nợ tất cả, hắn bắt đầu nói. Anh ấy đã giúp tôi ra khỏi đống rắc rối và nâng đỡ cho tôi những bước đi đầu tiên. Lúc đó anh ấy còn trẻ và tràn đầy năng lượng. Vào thời điểm đó, anh ấy đúng là mẫu người lý tưởng : nhân hậu, có khả năng giúp người khác thoát khỏi quỷ dữ và làm toát lên những giá trị tuyệt vời nhất của họ...
- Và để cảm ơn anh ấy, anh đã cướp lấy người vợ của anh ta sao ?
- Hoàn toàn không phải ! Hắn tự bào chữa trong khi trống ngực thì đập liên hồi. Cô tin rằng Francesca có thể yêu được một kẻ như tôi sao ? Cô ấy điên cuồng vì chồng cô ấy thì có !

Lắc đầu một cái, George chùi mồ hôi đang chảy dọc trên khuôn mặt hắn.

- Đó là một cặp đôi kì lạ và cuồng nhiệt, hắn tiếp tục. Mỗi người đều bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với người kia. Mỗi người đều muốn làm đối phương kinh ngạc. Họ phân chia nhiệm vụ với nhau, anh ấy thì biểu diễn cùng những chiếc đĩa thức ăn thơm ngon trên tivi, cô ấy thì ở hậu phương, làm công việc khuếch trương sức mạnh tập đoàn. Francesca tôn thờ chồng cô ấy và muốn anh ấy hiểu biết hết về ẩm thực thế giới, nhưng...
- ...nhưng sao ?
- Vì muốn tập đoàn nhanh chóng phát triển, cô ấy đã có những quyết định sai lầm về chiến lược dẫn công ty đến bên bờ vực phá sản.

Lúc này, George nghiến răng ken két. Quầng thâm xung quanh mắt hắn hằn lên như dấu vết của những con bồ hóng. Sự kết hợp giữa thuốc mê và cơn buồn ngủ rõ ràng là không hề mang lại điều gì tốt lành.

- Những tấm ảnh của anh và Francesca trong máy tính, chỉ là mồi nhử thôi sao ?
- Tất nhiên ! Vào một ngày, cách đây hai năm, cô ấy gọi điện cho tôi từ Bahamas. Đó chắc chắc là trong kì nghỉ lễ Noël. Tôi đang ở Maldives với một cậu bạn để đi lặn. Hoàn toàn hoảng loạn, cô ấy muốn tôi đến tìm cô ấy ở Nassau trước ngày hôm sau vào lúc 15 giờ. Cô ấy nói là chuyện khẩn cấp. Tôi đã tìm hiểu để biết thêm, nhưng cô ấy nói với tôi rằng tôi càng biết ít thì tôi sẽ càng an toàn.
- Điều gì đã đấy anh đến việc đồng ý theo lời cô ấy ?
- Francesca là cô chủ của tôi và tôi không thể nói là cô ấy để cho tôi lựa chọn. Tôi nhớ là lúc đó thật sự khủng khiếp : các chuyến bay đều đã kín chỗ ; tôi đã phải quá cảnh ở Luân Đôn để đến đúng giờ. Tôi đã nghĩ rằng tôi sẽ có nhiều thông tin hơn khi đến đó, nhưng không phải như vậy. Cô ấy chỉ dựng lên những bức ảnh ngu ngốc cùng với một tay paparazzi trong vùng và chúng tôi đã về trên cùng một chuyến bay.
- Rồi sau đó ?
- Lúc đến nơi, Jonathan đang đợi chúng tôi ở sân bay. Tôi không biết là ai đã báo trước cho anh ấy, nhưng mọi thứ diễn ra thật tệ hại. Anh ấy đã cho tôi một cú đấm và đã cãi nhau rất to với vợ mình trước mặt mọi người. Ngày hôm sau, họ tuyên bố ly hôn và chuyển nhượng tập đoàn.
- Anh chưa bao giờ kể sự thật cho anh ấy à ?
- Chưa. Tôi đã suy nghĩ về điều đó rất nhiều lần. Tôi đã rất hối hận, tôi biết rằng anh ấy đã suy sụp và tìm cách bắt đầu lại ở San Francisco. Tôi đã nói điều đó với Francesca và lần nào cô ấy cũng ngăn chặn tôi làm chuyện ấy, nhất là...
- ...nhất là khi cô ấy đã trả cho anh cái giá quá lớn để đổi lấy sự im lặng.
- Nghe này, tôi chưa bao giờ cho răng mình là người tốt, hắn tự bào chữa. Chỉ có Jonathan là tin vào điều đó thôi.
- Thế còn Francesca ?
- Cô ấy vẫn ở New York với con trai. Từ khi cha cô qua đời, cô ấy trở thành trụ cột của tập đoàn.
- Cô ấy có người đàn ông nào khác không ?
- Tôi không biết. Cô ấy có người đi cùng trong những buổi tiệc chiêu đãi hoặc khai trương, nhưng điều đó không có nghĩa là cô ấy quen với những gã như vậy. Nào, cô thả tôi ra đi chứ, khốn thật !
- Hạ thấp giọng của anh xuống đi nào, làm ơn đi. Cô ta muốn ám chỉ điều gì khi nói trong thư : « Em tin rằng anh đã hiểu khi đọc báo... »
- Tôi hoàn toàn không hiểu gì hết !

Madeline tỏ ra thận trọng. Về điều này, cô cược rằng George đang nói dối. Khi đã lấy lại được ý thức, hắn thậm chí còn mang vẻ đe dọa :

- Cô có ý thức được rằng ngay khi cô thả tôi ra, tôi sẽ chạy ngay tới đồn cành sát gần nhất và...
- Tôi không nghĩ như vậy đâu.
- Tại sao ?
- Tại vì tôi chính là cảnh sát đây, đồ vô lại !

Cô cần phải bình tĩnh lại. Cô đang ở trong một tình huống nguy hiểm. Bước tiếp theo là gì ? Chĩa khẩu súng vào miệng hắn à ? Hay là dội nước lên người hắn cho hắn ngộp thở ? Hay là cắt đứt một đốt tay của hắn ?

Một người đàn ông như Danny sẽ biết cách làm cho George khai ra chỉ trong năm phút. Nhưng cô cũng không chắc rằng Danny sẽ muốn cô cũng trở nên như vậy.

Cô lấy một con dao trong bếp, cắt đi sợi dây đang trói George, mở trói tay phải của hắn.

- Phần còn lại anh hãy tự làm lấy, cô nói và đi khỏi căn hộ.
hagiang1310 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 02-04-2012, 12:49 AM   #29
hagiang1310
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 40
Xin cảm ơn: 13
Được cảm ơn 261 lần trong 40 bài
Send a message via Yahoo to hagiang1310
Default Chương 22: Bóng ma ở Manchester

Bí mật mà ta gìn giữ giống như một tội lỗi
mà ta không thú nhận hết : nó sinh ra, ăn mòn ta,
và chỉ có thể được nuôi sống bằng những bí mật khác nữa.
Juan Manuel De PRADA

Thứ tư ngày 21 tháng 12
Luân Đôn

Chuyến bay của hãng British Airways hạ cánh ở Heathrow lúc 7 giờ sáng trong bóng tối, mưa và sương mù. Cái thời tiết « Anh quốc » này không ngăn cản Jonathan khỏi ý định ban đầu : anh không đi đến đây để nghỉ dưỡng. Vừa mới ra khỏi máy bay, anh đổi vài đô la và đi đến quầy của hãng Hertz để lấy chiếc xe hơi mà anh đã đặt ngày hôm trước qua mạng Internet.

Từ Luân Đôn phải mất bốn tiếng đi đường cao tốc mới đến được Manchester. Những cây số đầu tiên giống như một cơn ác mộng : Jonathan đã nghĩ rằng anh sẽ không bao giờ quen được tay lái ở bên trái. Một vài ác cảm đối với xứ sở này thoáng qua trong tâm trí anh (người ta lúc nào cũng phê bình sự kiêu căng của người Pháp, vậy thì người ta nghĩ gì khi một dân tộc luôn dựng lên rào cản đối với đồng euro, tiếp tục ngồi lái phía bên trái và lắc ngón trỏ và ngón giữa như một dấu hiệu của danh dự?), nhưng rồi anh lại đẩy lùi những hình ảnh đó. Anh hít thở và tự nhủ rằng mình phải tĩnh tâm, chạy chậm lại và tập trung hơn.

Rồi anh đến vòng xoay, cảm thấy như đang bị mất phương hướng vì sự đảo ngược thứ tự của các bộ phận điều khiển, thay vì bật đèn hiệu, anh lại bấm nhầm nút mở cần gạt nước.

Trên đường cao tốc, anh chạy một cách cẩn thận, chú ý từng chút một trên từng cây số. Đến ngoại ô Manchester, anh gắn thiết bị GPS vào và nhập vào đó địa chỉ của sở cảnh sát Cheatam Bridge. Anh đi theo chỉ dẫn đến một tòa nhà xám xịt mang lại cho anh một cảm giác kì lạ. Nơi này giống y như những gì anh đã tưởng tượng. Đây là nơi Madeline đã từng làm việc, nơi mà vào một buổi sáng trời âm u Erin Dixon đã đến để thông báo về sự mất tích của con gái mình...

Ở cổng vào, anh hỏi thăm để biết liệu thám tử Jim Flaherty vẫn còn làm việc ở đây hay không. Bởi vì anh ta vẫn ở đây, anh hỏi liệu viên cảnh sát có thể tiếp anh được không.

- Tôi muốn cập nhật vài tình tiết mới của một trong số những cuộc điều tra của ông ấy.

Nhân viên tiếp tân nhấc điện thoại lên rồi sau đó mời anh đi theo cô ấy. Họ băng qua cái sảnh lớn với thiết kế theo không gian mở mà anh nhớ mình đã nhìn thấy trên bức ảnh sinh nhật của Madeline. Đã nhiều năm trôi qua, không có gì thay đổi rõ rệt, ngoại trừ việc cái poster của Cantona đã được thay thể bởi Wayne Rooney.

Đây không phải là sự lựa chọn tốt nhất, các anh bạn à...

Nhân viên đưa anh vào văn phòng mà Flaherty làm việc cùng với một trung úy trẻ.

- Điều tra viên sẽ tiếp đón ông.

Jonathan chào viên trung úy và tiến sâu hơn vào phòng. Flaherty đã lấy lại tấm poster của « Canto » và dán nó ngay bên cạnh tấm áp phích về concert của The Clash.

Một điểm cộng cho anh ta...

Trên bàn làm việc của mình, anh ta đính lên rất nhiều hình ảnh – sinh nhật, liên hoan trước nghỉ hưu của các cảnh sát khác, nhiều cuộc liên hoan khác nữa – tất cả đều được chụp vào thời gian mà Madeline vẫn còn « ở đây ». Cuối cùng, trên cao phía bên phải là một bức áp phích đã ngả vàng và bị rách được in vào thời điểm của cuộc điều tra vụ mất tích của Alice Dixon. Không những Flaherty không gỡ nó ra, mà anh ta còn dán bên cạnh nó tấm chân dung người nữ cộng sự của mình. Một sự hiển nhiên đập ngay vào mắt : cả hai người phụ nữ đều có cùng một ánh nhìn, buồn và mờ ảo, cùng một vẻ đẹp và cùng mang lại một cảm giác xa xăm, trong một thế giới chỉ thuộc về họ, rất xa với người đang chụp ảnh.

- Tôi có thể giúp gì được cho anh ? Flaherty hỏi trong khi đóng cửa phòng lại.

Jonathan chào anh ta. Viên cảnh sát có một gương mặt thanh tú, tóc màu hung, và một dáng vẻ oai vệ. Trên những bức ảnh, anh ta thật sự « đẹp trai », mặc dù hiện tại người ta thấy có một vẻ hơi bất cần. Trên hết, phần bụng anh ta bị trễ xuống : vài tuần lễ ăn kiêng « Dukan » chắc cũng không thể giúp anh ta có được một thân hình quyến rũ hơn.

- Chúng ta có chung một mối quan hệ, thưa cảnh sát. Jonathan mở lời trong khi ngồi xuống.
- Là ai vậy ?
- Madeline Greene.

Một ngọn lửa nhỏ sáng lên trong mắt Flaherty.

- Madeline... Cô ấy đã không liên lạc gì với tôi kể từ khi từ chức. Cô ấy thế nào rồi ?
- Vẫn tốt, tôi nghĩ thế. Cô ấy mở một cửa hàng bán hoa ở Paris.
- Đó là những gì tôi đã được biết.
- Thật ra, Jonathan nói tiếp, tôi không phải ở đây để nói với anh về Madeline, mà là về Alice Dixon.

Flaherty bối rối và nhíu mày lại với một vẻ đe dọa. Vào lúc đó, không khí rất căng thẳng và Jonathan thậm chí đã từ bỏ ý định khuyên nhủ anh ta thực hiện một chế độ ăn kiêng.

- Anh là một tay nhà báo chuyên đi bới lông tìm vết phải không ?
- Hoàn toàn không, tôi là một người sếp.
- Sếp gì ?
- Một bếp trưởng.

Viên cảnh sát quan sát anh và có vẻ dịu đi một chút :

- Đã có thời anh thường hay lên tivi phải không ?
- Đúng vậy, chính là tôi.
- Vậy thì cơn gió nào đã đưa anh đến văn phòng của tôi ?
- Tôi có một điều có thể làm anh hứng thú.

Viên cảnh sát kín đáo nhìn người đồng nghiệp của mình rồi lướt nhìn cái đồng hồ treo tường vừa mới chỉ 13 giờ.

- Anh đã ăn trưa chưa ? Anh ta hỏi.
- Vẫn chưa. Tôi bay từ San Francisco và vừa mới đến Luân Đôn sáng nay.
- Chỉ để nói chuyện với tôi thôi sao ?
- Đúng vậy.
- Có một quán bar mà các cảnh sát ở khu vực gần đây hay lui tới. Một phần cá và khoai tây, anh đồng ý không ?
- Sao cũng được, Jonathan trả lời trong khi đứng dậy để đi theo anh ta.
- Nhưng tôi nói trước với anh, đó không phải là Fat Duck đâu đấy... (một nhà hàng nổi tiếng sang trọng ở Anh).

*

Về điều này, viên cảnh sát đã không nói dối. Chỗ đó thật ồn ào và có thể cảm thấy cả mùi chiên xào, mùi bia và cả mùi mồ hôi.

Vừa mới ngồi xuống, Flaherty đã vào thẳng ngay chủ đề :

- Anh có vẻ thân thiện, nhưng dù sao tôi vẫn phải đề phòng : vụ án Alice Dixon đã kết thúc cách đây hai năm, anh hiểu chứ ? Do đó nếu anh đến để nói với tôi về những điều vô căn cứ hay những giả thiết vớ vẩn thì tôi sẽ nhúng đầu anh vào dĩa thức ăn đấy, rõ chưa ?
- Rõ như ban ngày, Jonathan nói.

Đó hẳn không phải là hình ảnh ẩn dụ hợp lý, anh nghĩ trong khi nhìn thông qua cửa kính một cơn mưa lớn cùng những đám mây xám xịt đang trôi lơ lững trên trời.

- Vậy thì, tôi đang nghe anh đây, Jim nói trong khi đang ngấu nghiến một miếng cá lớn.
- Erin Dixon bây giờ thế nào ? Jonathan bắt đầu.
- Mẹ của cô bé à ? Cô ta đã chết năm ngoái do dùng thuốc quá liều. Cô ta đốt hết tất cả tiền mà người ta trao tặng vào thuốc phiện. Đừng có trông chờ rằng tôi sẽ thương hại cái thứ như thế...
- Tại sao vụ án lại nhanh chóng kết thúc như thế ?
- Nhanh chóng ? Chúng tôi đã nhận được trái tim của cô bé cách đây hai năm rưỡi, vào cuối mùa xuân năm 2009, mười ngày trước khi bắt được Harald Bishop, kẻ giết người của Liverpool. Chúng tôi đã có bằng chứng về cái chết của Alice và tay giết người đã vào tù, điều đó không đủ với anh sao ?
- Tôi đã đọc rằng Bishop đã bị kết án bởi vài cái chết mà hắn đã không làm...
- Phải, đó là điều bình thường đối với một kẻ giết người hàng loạt. Người ta vẫn không thể biết rõ tất cả những gì Bishop đã làm. Hắn ta nói rất nhiều, nhưng không hoàn toàn là những trường hợp mà người ta muốn nghe. Giống như rất nhiều tên quái thú khác trên thế giới, hắn là một kẻ vừa điên khùng vừa tính toán. Trong những cuộc thẩm vấn, hắn luôn đùa giỡn với thanh tra : hắn thú nhận một số điều, rồi lại chối bỏ, lại nói về một tội ác khác. Người ta tiếp tục phân tích tất cả các thi thể tìm thấy trong vườn nhà hắn. Người ta đã không thể xác định được thi thể của Alice, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là hắn đã không giết cô bé.

Jonathan nhấm nháp một miếng cá chiên và cảm thấy hơi buồn nôn. Anh cảm thấy khó chịu trong cái nơi chật hẹp và nóng nực như lò hấp thế này. Anh cởi một nút áo sơ mi và gọi một chai Perrier.

- Anh vẫn còn yêu Madeline Greene đúng không ? Anh hỏi trong khi mở nút chai bia.

Flaherty nhìn anh một cách sững sờ. Anh ta cảm thấy như đang bị ù tai.

- Nào, hãy nhìn vào điều đó, Jim ! Jonathan tiếp tục. Đó là một người phụ nữ đẹp, thông minh và sâu sắc, cùng với một chút yếu đuối càng làm cho cô ấy thêm hấp dẫn. Thật khó để không phải lòng cô ấy, đúng không ?

Flaherty đấm tay xuống bàn.

- Anh lấy đâu ra...
- Chỉ cần nhìn mấy tấm ảnh trên bàn làm việc của anh thì biết. Từ lúc Madeline ra đi, anh đã lên mấy kí ? Mười lăm ? Hai mươi ? Anh đã bỏ mặc bản thân mình. Tôi nghĩ rằng sự ra đi của cô ấy đã dày vò anh và...
- Ngừng nói những điều ngu ngốc đi ! Viên cảnh sát nói trong khi túm lấy cổ áo anh.

Nhưng điều đó không ngăn cản Jonathan tiếp tục :

- Tôi cũng nghĩ rằng anh không hoàn toàn bị thuyết phục bởi việc Bishop đã giết Alice. Anh vẫn giữ tấm áp phích thông báo về sự mất tích của cô bé trong văn phòng mình, bởi vì, đối với anh, vụ án chưa bao giờ hoàn toàn kết thúc. Tôi chắc rằng anh nghĩ đến Alice mỗi ngày. Tôi tin rằng anh vẫn tiếp tục tự mình điều tra và rằng có thể anh đã tìm thấy vài tình tiết gì mới. Không phải là bằng chứng để có thể lật lại cuộc điều tra, nhưng là những chi tiết đủ sức để phá hỏng giấc ngủ của anh...

Ánh nhìn của Flaherty có chút bối rối. Lúng túng, anh buông Jonathan ra. Jonathan chỉnh lại áo vest, đứng dậy và để tờ 10 bảng lên bàn. Anh bước đi dưới mưa, băng qua con đường để tránh cơn bão dưới mái hiên của một ngôi trường.

- Đợi đã ! Flaherty hét lên khi đuổi theo anh. Anh nói rằng anh có vài điều muốn chia sẻ với tôi.

Hai người đàn ông ngồi xuống một băng ghế gỗ ngoài hiên. Lúc đó đang là kì nghỉ Noël. Khuôn viên trường học rất yên tĩnh và vắng lặng. Cơn bão có sức tàn phá thật mãnh liệt, bao trùm cả khu phố bởi một cơn mưa lớn và dai dẳng nhấn chìm hết mọi thứ.

- Tôi không phải là ông già Noël, Jonathan nói trước. Trước khi nói với anh điều mà tôi tìm thấy, tôi muốn biết chính xác anh đã tìm hiểu thêm được những gì.

Jim thở hắt ra, nhưng cũng đồng ý nói về sự tiến triển trong cuộc điều tra của mình :

- Anh nói đúng : mặc dù vụ án đã được khép lại, tôi vẫn tiếp tục trong những lúc có thời gian, tìm tòi theo những hướng mà Madeline đã đưa ra. Trong đó đặc biệt có một hướng, liên quan đến nhật kí của Alice, thứ luôn làm chúng tôi phải suy nghĩ.
- Tại sao ?
- Bởi vì trong đó toàn là những thứ tầm phào, không có gì có thể coi là « bí mật » cả...
- Các anh đã phân tích nó rồi à ?
- Phải, trước tiên bởi một nhà phân tích chữ viết để xác nhận tính xác thực của nó, rồi bởi một nhà hóa học. Mặc dù khá khó khăn để xác định ngày tháng của các văn bảng, người ta cũng rút ra được nhiều điều từ những trang được viết nguệch ngoạc. Anh có biết một vài nhà sản xuất cho vào trong những cây bút của họ vài « dấu tích hóa học » cho phép biết được năm ra đời của một loại mực không ?

Jonathan lắc đầu. Jim tiếp tục :

- Mực bị « già đi » ngay khi tiếp xúc với giấy. Vài thành phần của nó bị hao mòn và có một số sản phẩm người ta có thể phân tích được bằng phép sắc ký và bằng tia hồng ngoại. Tóm lại, tôi sẽ bỏ qua phần tả chi tiết. Báo cáo xét nghiệm đã xác định : những trang đó đúng là được viết bởi bàn tay của Alice, nhưng quyển nhật ký ghi lại các sự kiện diễn ra trong suốt hơn một năm đã được viết lại chỉ trong một tích tắc !

Jonathan không chắc chắn rằng mình đã hiểu hết. Jim kể sâu hơn về khám phá của mình :

- Tôi tự thuyết phục rằng đó chỉ là một bản sao « tóm lược » được viết bởi Alice để đánh lạc hướng cuộc điều tra.
- Tôi đồng ý với anh rằng điều này khá kì lạ, nhưng vậy không phải quá đơn giản sao ?
- Còn một điều nữa, Flaherty nói tiếp. Nhạc cụ mà người ta đã tìm thấy trong phòng cô bé.
- Đàn violon ?
- Phải. Alice học đàn từ năm 6 tuổi với Sarah Harris, một nghệ sĩ solo khá nổi tiếng đã phát hiện cô bé trong một lần làm từ thiện ở trường học. Bởi vì cô bé có năng khiếu, Harris đã tặng cô một cây đàn violon chất lượng tốt. Một cây đàn có giá từ 5 đến 7000 euros...
- Nhưng đó không phải là cây đàn mà người ta tìm thấy trong phòng Alice, đúng không ?
- Không, tôi đã cho kiểm tra nhạc cụ : đó chỉ là một cây đàn bình thường được sản xuất ở Trung Quốc với giá không đáng một xu...

Lần này, Jonathan buộc phải đồng ý rằng sự việc thật rắc rối. Liệu có phải Alice đã bán cây đàn trước khi mất tích ? Dù sao đi nữa, cô bé không ở cùng với nó trong những bức ảnh chụp lại từ camera theo dõi.

- Mặc dù tôi đã xem xét hết các sự việc theo mọi hướng, tôi vẫn không thể tìm ra logic của tất cả chúng, Jim thú nhận.
- Liệu anh đã xem xét trái tim chưa ?
- Anh cho rằng tôi là kẻ ngốc sao ? Anh đang nghĩ gì vậy ? Một cuộc cấy ghép à ?
- Biết đâu được...
- Hiển nhiên là tôi đã kiểm tra rồi ! Đó không phải là điều gì quá phức tạp : người ta không thể làm điều đó trong gara và số lượng những ca cấy ghép ít ỏi buộc tôi phải nghĩ điều đó là không thể. Tôi đã kiểm tra lại những thiếu niên được nhận tim mới trong vòng vài tháng sau khi tìm ra xác của Alice. Chỉ có khoảng vài chục trường hợp. Tất cả đều đã được xác nhận danh tính và đều trải qua đúng các thủ tục.

Jonathan mở khóa chiếc túi đeo vai của mình để lấy ra một túi nilon trong đó có hai mẩu khăn giấy được viết nguệch ngoạc trên đó có dính lốm đốm sô cô la.

- Cái gì vậy ? Jim hỏi trong khi cố gắng đọc thông qua lớp giấy gói.

Anh nhận ra nét chữ giờ đã trở nên quen thuộc. Những dòng đầu tiên bắt đầu bằng :

Gửi ông Lempereur, không, cháu muốn nói là chú Jonathan.

Cháu đã tự cho mình cái quyền rút hết đạn trong khẩu súng của chú và vứt chúng vào thùng rác của bãi đỗ xe trong khi chú đang uống cà phê của mình...


- Hãy gửi những mẩu giấy này đến phòng thí nghiệm. Hãy thử tìm lại những dấu vết.
- Nói tôi nghe thêm đi nào, viên cảnh sát nài nỉ.
- Đọc những dòng chữ ở mặt sau rồi anh sẽ hiểu.

Jim nhíu mày trong khi lật túi nilon lại. Một dòng chữ màu vàng nhảy múa ở chính giữa tờ khăn giấy. «  Trạm dừng Total chúc quý khách một năm 2010 tốt lành. »

- Điều này là không thể : vào lúc này, Alice đã chết được sáu tháng !
- Gọi cho tôi khi anh có kết quả, Jonathan nói trong khi đưa anh ta danh thiếp.
- Đợi đã ! Anh quay trở về San Francisco sao ?
- Phải, Jonathan nói dối. Tôi có một chuyến bay vào buổi tối và một nhà hàng cần phải được mở cửa lại.

Anh đứng dậy và đi ra xe hơi dưới màn mưa.

Anh mở công tắc, bật cần gạt nước và khởi động xe. Tâm trí để nơi khác, anh nghiền ngẫm lại những chi tiết mà Flaherty vừa kể cho anh. Câu chuyện về quyển nhật ký, cây đàn violon,... Chìm đắm trong suy nghĩ của mình, anh không để ý rằng mình đang chạy theo thói quen về phía phải. Anh đang chạy với một tốc độ cao, một chiếc xe bus đang ở ngay phía trước anh. Jonathan hét lên, quay vòng vô lăng bằng tất cả sức lực của mình và giữ cho xe không lộn nhào. Anh để mất một chụp trục bánh xe, làm xướt chiếc xe và hoàn toàn bị lạc trong nỗi sợ hãi.

Nhưng anh vẫn còn sống.

*

Paris 16h30

- Em sẽ đi gặp Juliane ở Luân Đôn sao ! Raphael thốt lên. Như vậy là ngay tức thì sao ?
- Điều đó làm em thấy vui vẻ, Madeline trả lời.

Họ có một cuộc hẹn trong một quán cà phê nhỏ trên đường Pergolèse, phía dưới tòa nhà nơi đặt văn phòng của Raphael.

- Khi nào em đi ?
- Khoảng chiều tối : tàu Eurostar lúc 18h13.
- Nhưng chỉ còn vài ngày nữa là giao thừa !

Cô cố gắng trấn an anh :

- Anh đừng lo : em sẽ về vào buổi tối ngày 24.
- Còn cửa hàng thì sao? Anh chắc rằng em chưa bao giờ bận hơn lúc này phải không ?
- Nghe này, cô nổi cáu, em muốn đến thăm bạn thân của em ở Anh, chỉ vậy thôi ! Chúng ta không còn ở những năm 1950, cho nên em có quyền bỏ qua sự cho phép của anh.

Bất ngờ mất đi sự kiên nhẫn, cô đứng dậy và rời khỏi quán. Bàng hoàng, Raphael thanh toán hóa đơn và đuổi theo cô đến chỗ đỗ taxi trên đại lộ Grande-Armée.

- Chưa bao giờ anh thấy em như vậy, Raphael lo lắng. Em có gì lo lắng sao ?
- Không, anh yêu à, đừng có như thế. Em chỉ cần một ít thời gian nghỉ ngơi thôi, được chứ ?
- Dĩ nhiên rồi, anh nói trong khi giúp cô bỏ túi xách vào cốp xe taxi. Em sẽ gọi cho anh khi đến nơi chứ ?
- Tất nhiên rồi, cô nói và ôm hôn anh.

Anh nghiêng đầu nói với tài xế : « Vui lòng đến ga hướng Bắc. »

Chiếc xe lăn bánh. Madeline vẫy tay tạm biệt Raphael qua cửa kính. Kiến trúc sư trả lời cô bằng một động tác mô phỏng nụ hôn.

Người phụ nữ trẻ chờ cho xe đi đến quảng trường Étoile rồi nói với tài xế :

- Hãy quên ga hướng Bắc đi, cho tôi đến Roissy. Cửa 1.

*

Madeline trình hộ chiếu và vé máy bay cho nhân viên hãng hàng không Air China. Vào thời điểm này của kì nghỉ, tất cả các chuyến bay đi San Francisco đều kín chỗ hoặc giá vé rất cao. Với ít hơn 1000 euros, cô chỉ tìm được trên Internet chiếc vé một chiều của một hãng Trung Quốc. Cuộc lẩn trốn đến California buộc cô phải chấp nhận một thời gian quá cảnh ngắn ở Bắc Kinh !

Cô bước vào đường dẫn đến máy bay. Quần jean cũ, áo phông cổ tròn, áo khoác da : hình ảnh phản chiếu qua các lớp kính mang lại cho cô một dáng vẻ không có chút gì nữ tính. Cô xõa tóc, không trang điểm, gần như mặc kệ. Bộ dạng nhàu nhĩ đó như đang thể hiện sự rối loạn đang ngự trị trong tâm trí cô.

Cô tự trách mình đã nói dối Raphael. Anh là một người đàn ông mẫu mực, có trách nhiệm và đáng tin cậy. Anh biết rõ quá khứ của cô và không phán xét nó. Anh mang lại cho cô sự thanh thản và tin tưởng. Cô không có quyền lừa dối anh như vậy.

Tuy nhiên, cô đã không ngại ngần lấy một giây để mua một chiếc vé máy bay đến đầu kia của thế giới chỉ vài giây sau cuộc gọi của Jim Flaherty.

Người cộng sự cũ của cô đã tìm thấy số điện thoại của cửa hàng hoa và gọi cho cô vào đầu buổi chiều để nói với cô về một người tên Jonathan Lempereur, tự nhận là quen biết cô, đã đến hỏi anh về vụ án Dixon.

Vụ án Dixon...

Alice.

Chính sự gợi nhớ này là nguyên nhân chính cho một cú sốc có thể lý giải toàn bộ thái độ của cô những ngày gần đây. Đó là dấu hiệu của định mệnh ! Số phận đã trêu đùa cô ngay từ lúc đầu khi tráo đổi điện thoại của cô và Lempereur. Trong khi điều tra về George, Francesca và Jonathan, cô lại trở về với Alice !

Trong tâm trí cô, không có gì là xa xăm, không có gì mờ nhạt cả. Ký ức về cô bé vẫn còn rất sống động. Một hình ảnh rõ nét mà cô cố gắng xóa đi trong tuyệt vọng để bảo vệ sức khỏe tinh thần của mình. Một vết thương trong tâm hồn còn nhức nhối đến nỗi không một ngọn lửa nào có thể thiêu đốt nó được.

Con người không thể tự giải thoát được trong quá khứ. Con người cũng không thể trốn chạy khỏi những ám ảnh của chính mình.

Alice đã quay trở lại tìm cô.

Alice đã quay trở lại ám ảnh cô.

Lần trước, nỗi sợ hãi về hình ảnh của « trái tim » đã buộc cô từ bỏ việc điều tra.

Lần này, cô đã sẵn sàng để đi đến tận cùng.

Không quan trọng cái giá phải trả sẽ là gì.
hagiang1310 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 09-04-2012, 01:29 AM   #30
hagiang1310
Học sinh
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 40
Xin cảm ơn: 13
Được cảm ơn 261 lần trong 40 bài
Send a message via Yahoo to hagiang1310
Default Chương 23: Chiếc gương hai mặt

Tôi không biết con đường tôi đi sẽ dẫn đến đâu,
nhưng tôi sẽ bước đi vững vàng hơn khi tay tôi siết chặt lấy tay em.
Alfred DE MUSSET

Thứ năm 22 tháng 12
Sân bay Nice-Côte d'Azur
11h55

Ánh mặt trời mùa đông chiếu sáng cả đường băng.

Jonathan đã rời buổi sáng ảm đạm của nước Anh để đến với cái nắng dịu của vùng Địa Trung Hải. Vừa xuống máy bay, anh đón ngay một chiếc taxi đến Antibes. Đường sá khá ngoằn ngoèo, tài xế ra khỏi đường cao tốc để tiến về phía vùng đất chạy dọc theo đường bờ biển. Trên đường, người ta có cảm giác như đang là mùa xuân hay đang ở California : những vận động viên tập chạy, những cụ già dẫn chó đi dạo và, vào giờ ăn trưa, rất nhiều nhân viên tận hưởng bữa ăn của mình trong khi chiêm ngưỡng vịnh Anges dưới những tán cây.

Trong vòng 20 phút, taxi đã đến Antibes. Nó băng qua trung tâm thành phố và đi vào đường Garoupe. Càng gần đến đích, Jonathan càng cảm thấy một sự phấn khích đang dâng lên trong người. Ai đang ở « nhà của Alice » ngay lúc này ? Người ta đang trong thời điểm nghỉ lễ. Có thể cô bé anh đã đưa về đây cách đây hai năm bây giờ đang tận hưởng kì nghỉ Noël với gia đình không ?

- Xin đợi tôi vài phút, anh nói với tài xế khi vừa đến ngõ cụt Sans-Souci.

Lần này, hàng rào đang đóng kín. Anh đã phải nhấn chuông rất nhiều lần và chứng minh mình đi tay không trước camera theo dõi trước khi người ta đồng ý mở cửa cho anh.

Anh lại đi bộ trên lối đi lát sỏi băng qua rừng thông. Trong không khí thoang thoảng mùi xạ hương, hương thảo và hoa oải hương. Trên bậc thềm của lối vào ngôi nhà, một phụ nữ khoảng năm mươi tuổi đang đợi anh. Bà choàng một chiếc khăn trên tóc, trên tay là một bảng màu và vài đốm đồi mồi trên khuôn mặt : anh chắc hẳn đang làm phiền việc vẽ tranh của người phụ nữ này.

- Tôi có thể giúp gì được cho anh ? Bà ta nói bằng một giọng đặc chất Áo giống như Romy Schneider.

Bà ta tên là Anna Askin và là chủ nhân của ngôi nhà từ mùa xuân năm 2001. Bà cho thuê nơi này gần như suốt năm, thường là theo tuần, cho nhiều người giàu có từ Nga, Anh và Hà Lan.

Jonathan chỉ ngạc nhiên một nửa. Rõ ràng, Alice đã nói dối anh : « cha mẹ » của cô bé không phải là chủ của nơi này. Chắc chắn họ chỉ thuê nơi này trong kì nghỉ mà thôi.

- Thứ lỗi cho tôi đã làm phiền bà, nhưng tôi đang tìm kiếm một gia đình đã thuê căn nhà này của bà vào hai năm trước. Ông bà Kowalski, bà có nhớ không ?

Anna Askin lắc đầu. Thông thường, bà không gặp trực tiếp người thuê nhà : theo chế độ tự động, chồng bà đã điều khiển toàn bộ ngôi nhà. Mọi thứ đều hoạt động theo mã và tia hồng ngoại, tòa nhà được trang bị một mạng lưới điều khiển bởi một chương trình vi tính.

- Tôi không biết nữa, nhưng tôi có thể kiểm tra lại.

Bà ra hiệu cho Jonathan theo mình lên sân thượng. Anh đi theo bà đến một ban công vòm tròn hướng ra biển và bãi đá. Bên cạnh cái giá, trên chiếc bàn, một chiếc máy tính xách tay đời mới phát ra tiếng nhạc dễ chịu. Người phụ nữ Áo mở bảng Excel thể hiện các vụ cho thuê nhà của mình.

- Ông bà Kowalski, chính xác. Một cặp đôi người Mỹ. Họ đã thuê căn nhà mười lăm ngày từ 21 tháng 12 năm 2009 đến 4 tháng 1. Kì lạ là họ đã trả nhà trước thời hạn : căn nhà đã trống từ buổi chiều ngày 1 tháng 1.

Họ đã ra đi chỉ vài giờ sau sự trở về của Alice, Jonathan nghĩ.

- Bà có địa chỉ của họ không ?
- Không, họ đã trả tất cả bằng tiền mặt : 9000 đô la mà họ đã chuyển từ nhiều tuần trước đến văn phòng của chồng tôi ở New York. Thật không phải bình thường, nhưng họ là người Mỹ mà. Họ có một « tôn giáo thờ tiền mặt », bà nói với một giọng hơi khinh thường.
- Thế còn tiền đặt cọc ?
- Họ chưa bao giờ đòi được trả lại.

Khỉ thật...

- Vậy thì bà hẳn còn giữ cái gì đó chứ !
- Chỉ là một địa chỉ mail. Chúng tôi đã liên lạc bằng phương tiện này.

Không đặt quá nhiều hi vọng, Jonathan ghi lại địa chỉ mail : một tài khoản Hotmail có thể được tạo chỉ để dùng vào việc này và không để lại bất cứ thứ gì để khai thác thêm.

Dù sao thì anh cũng cảm ơn Anna Askin vì sự hợp tác của bà và nói người tài xế đưa anh trở lại sân bay.

*

14 giờ

Jonathan di chuyển về quầy của hãng Air France để mua vé đi Paris vào lúc 15 giờ. Anh đi qua khu vực cách ly và kiên nhẫn chờ đợi trong khi nhấm nháp một chiếc sandwich tại một trong những nhà hàng có phong cảnh hướng về phía đường băng.

Thông thường, anh cảm thấy khó chịu khi ở sân bay, nhưng tại Nice thì khác. Ưu tiên sự trong suốt, sân bay có hình dạng của một chiếc ly bằng kính khổng lồ với mái vòm.. Mặt tiền ốp kính mở ra một khung cảnh tuyệt vời của biển Grande Bleue, vịnh Anges và những đỉnh núi tuyết phủ của Esterel. Siêu thực và nhẹ nhàng, nơi này đưa người ta đến với giấc mơ. Ánh sáng ở mọi nơi, giống như ở một vùng giao nhau bất tận giữa trời và biển...

Anh kéo phần dây thun để mở quyển sổ trong đó anh đã ghi chép lại cuộc trò chuyện với Jim Flaherty. Anh ghi vào đó những gì anh vừa nghe được từ Anna Askin và ý thức được rằng anh vẫn chưa tiến triển được gì nhiều. Đến lượt mình, câu chuyện của Alice Dixon làm anh rối bời, nhưng anh cũng chưa làm được gì hơn những người đã điều tra vụ án trước anh : anh càng điều tra, bức màn bí ẩn càng dày thêm và những hướng đi lại nhân lên, càng ngày càng xa rời nhau.

Anh ghi lại vài điểm, cố gắng nối những chi tiết lại với nhau, thể hiện ra giấy tất cả những giả thiết lướt qua trong đầu anh. Chìm đắm trong suy nghĩ, anh đợi đến khi người ta gọi tên mình mới đứng dậy và đi đến lối vào máy bay.

Ý thức được rằng những suy diễn của mình đang đụng phải một bức tường và rằng anh không thể tự mình tìm ra chìa khóa giải mã bí ẩn, một sự hiển nhiên buộc anh phải tuân theo : anh phải liên lạc với Madeline Greene.

*

Sân bay San Francisco
8h45

Bằng một sự tự hào không che giấu, phi công của Air China thông báo với hành khách rằng máy bay vừa mới đáp xuống sân bay sớm năm phút so với dự kiến.

Đeo túi trên vai, Madeline nối đuôi theo dòng người đang xếp hàng trước các quầy làm thủ tục nhập cảnh. Hoàn toàn lạc lõng, cô phải mất một lúc để nhận ra rằng bây giờ mới chỉ là 9 giờ sáng. Khi người ta hỏi cô hộ chiếu, cô nhận ra rằng, trong lúc vội vã, cô đã quên xem xét thủ tục nhập cảnh trên mạng cho phép cô đặt chân vào nước Mỹ !

Cô vừa mới ở New York cách đây vài ngày. Thủ tục đó có thời hạn đến hai năm, nhân viên hành chính trấn an cô.

Cô không kiểm soát được và bật ra ngay một tiếng « ouf » lớn và cố gắng trấn tĩnh lại. Không có hành lý, cô đi thẳng ra chỗ đậu taxi và đưa cho tài xế địa chỉ duy nhất của Jonathan mà cô có : địa chỉ nhà hàng của anh.

Trời nắng và nóng. Thật khó để tin rằng, chỉ vài giờ trước đây thôi, cô vẫn còn đang trong cái thời tiết âm u của Paris. Cô mở cả cửa kính để tận hưởng hết sự êm dịu của khí hậu.

California...

Cô luôn mơ ước được đến đây, nhưng cô đã tưởng tượng rằng đó phải là một kì nghỉ, với người yêu đi cùng. Không phải như thế này, vội vã, và nói dối người đàn ông vừa mới cầu hôn cô.

Khốn kiếp... tại sao mình lại làm rối tung mọi chuyện ?

Cô đã mất hai năm để xây dựng lại cuộc sống ổn định và thanh thản, nhưng sự cân bằng đó lại bay vụt đi mất cùng với sự trở lại đen tối của những bóng ma trong quá khứ. Chỉ trong vài ngày, cô đã để lạc mất mọi điểm mốc của mình. Cô cảm thấy như mình đang bị lạc giữa một hòn đảo không người đáng sợ, bị kẹt giữa hai cuộc sống mà không cái nào thật sự là của cô cả.

Chiếc xe chạy được khoảng 20 phút, băng qua thành phố từ những khu phố phía nam đến vùng North Beach.

Lúc đó là 10 giờ khi chiếc taxi thả Madeline trước nhà hàng của Jonathan...

*

Vào lúc đó, ở Paris

Mười tám giờ. Chuyến bay cất cánh từ Nice trễ hơn dự kiến : một cuộc đình công ngẫu hứng của nhân viên sân bay đã làm tê liệt mọi hoạt động trong vòng một giờ. Rồi, khi đã đến Orly, anh đã phải đợi thêm gần 20 phút nữa để được xuống máy bay. Trời tối, lạnh, tuyết rơi, đường phố bị tắc ; dễ thương như cánh cửa tù, người tài xế taxi bật radio hết cỡ mà không thèm quan tâm gì đến khách của mình.

Chào mừng đến Paris !

Jonathan không có được dáng vẻ của người Paris. Trái ngược với New York, San Francisco hay những thành phố ở phía Tây Nam, thủ đô không phải là nơi dành cho anh. Anh không cảm thấy như đang ở nhà, không thấy mình có thể có kỉ niệm đẹp ở đây, càng không muốn nuôi nấng con trai mình tại nơi này.

Khi đã qua được cửa Orléans, đường đi có vẻ thông thoáng hơn. Họ tiến đến gần Montparnasse. Anh đã kiểm tra trên điện thoại « của mình » thời gian mở của cửa hàng hoa mà Madeline là chủ. Cô chủ chỉ đóng cửa hàng vào lúc 20 giờ. Trong vài phút nữa, anh sẽ gặp cô, nói chuyện với cô. Anh cảm nhận được một sự pha trộn cảm giác phấn khích và e ngại. Chưa bao giờ anh có cảm giác biết rõ về một người ít qua lại đến như vậy. Chỉ cần việc trao đổi điện thoại giữa anh và cô cũng đủ để anh cảm thấy giữa họ có một mối liên hệ mạnh mẽ.

Chiếc taxi đi qua con sư tử nổi tiếng của Belfort trên quảng trường Denfert-Rochereau, tiếp tục đi trên đại lộ Raspail rồi rẽ vào đường Delambre. Đây rồi, chỉ còn vài mét nữa. Anh đã nhận thấy mặt trước màu xanh hạnh nhân của cửa hàng mà anh đã thấy trên Internet. Đậu trước một nhà hàng sushi, một chiếc xe tải đang chặn lối đi. Vội vã, Jonathan trả tiền rồi đi bộ vài mét đến cửa hàng...

*

San Francisco

Treo trước bảng hiệu, một tấm bảng con treo trên cửa của French Touch thông báo :

Kính thưa quý khách,
Nhà hàng chúng tôi đóng cửa đến hết ngày 26.
Cảm ơn vì sự thông cảm của quý khách.

Madeline không thể tin được vào mắt mình : Jonathan đang đi nghỉ lễ ! Không phải cô vừa mới vượt hơn mười hai ngàn cây số chỉ để... không được cái gì hết à ?

Khốn thật ! Lẽ ra cô phải bớt bốc đồng, kiểm tra kỹ trước khi đến đây, nhưng Jim Flaherty đã đảm bảo với cô rằng người chủ nhà hàng đã lên máy bay từ tối hôm trước.

Cô đọc lại dòng chữ viết tay bằng phấn :

Cảm ơn vì sự thông cảm của quý khách.

Sự thông cảm ? Mày có biết mày sẽ được đặt ở đâu không, sự thông cảm ? Cô gào lên dưới cái nhìn kì lạ của một bà lão đang dắt chó đi dạo.

*

Paris

Các bạn thân mến,
Vì các dịp lễ tết vào cuối năm,
Khu vườn tuyệt vời sẽ đóng cửa từ thứ tư 21/12 đến hết thứ hai 26/12
Chúc mọi người những ngày lễ tốt lành !
Madeline + Takumi

Không thể tin được, Jonathan chớp mắt : một cô chủ cửa hàng hoa lại đi đóng cửa hàng tuần lễ ngay trước Noël ! Nhìn bề ngoài, cô gái trẻ người Anh có vẻ đã bị khuất phục bởi lịch nghỉ lễ thất thường của người Pháp ! Sự mất tinh thần của anh ngay lập tức chuyển thành sự cáu giận.. Trong khi anh đang sôi lên vì cơn giận, anh nghe thấy điện thoại mình đổ chuông trong túi. Là Madeline...

*

Cô : Anh đang ở đâu ?
Anh : Hê, hô, người ta không dạy cô biết chào hỏi à ?
Cô : Chào anh. Anh đang ở đâu ?
Anh : Còn cô ?
Cô : Trước cửa nhà hàng anh, nhìn đây này !
Anh : Hả ?
Cô : Tôi đang ở San Francisco. Nói cho tôi biết anh đang ở đâu và tôi sẽ tới đó.
Anh : Nhưng bây giờ tôi không có ở nhà !
Cô : Nghĩa là...
Anh : Tôi đang ở Paris, trước cửa hàng của cô.
Cô : …
Anh : …
Cô : Anh không thể báo trước cho tôi à, khỉ thật !
Anh : Là lỗi của tôi sao ? Tôi có thể rút lại lời khen của cô đó, tôi nói trước với cô đó !
Cô : Chính ANH đã lục lọi điện thoại của tôi ! Chính ANH đã làm rối tung mọi chuyện không liên quan đến mình ! Chính ANH đã đào xới cái hồ sơ đã phá hoại cuộc đời tôi. Chính ANH...
Anh : ĐỦ RỒI ! Nghe này, chúng ta cần phải nói chuyện, thật bình tĩnh. Mặt đối mặt.
Cô : Với khoảng cách mười ngàn cây số, điều đó là quá khó đối với tôi !
Anh : Chính vì thế mà tôi đề nghị mỗi người hãy tiến một bước về phía người kia.
Cô : … ?
Anh : Tôi đề nghị chúng ta hãy gặp nhau tại Manhattan. Sẽ nhanh thôi, và với sự chênh lệch múi giờ thì chúng ta có thể ở đó ngay tối nay.
Cô : Anh có vấn đề à ? Trước hết, tất cả các chuyến bay đều đã kín chỗ, còn tài khoản của tôi đang ở mức báo động đỏ và tôi muốn nói với anh là...
Anh : Có một chuyến bay của hãng United Airlines vào lúc 14h30. Tôi thường đi chuyến đó để đến đón Charly ở New York. Tôi có khá nhiều điểm thưởng và tôi sẽ tặng cô chiếc vé đó.
Cô : Vinh hạnh quá nhỉ, anh đang đài thọ tiền vé cho ai đấy ?
Anh : Nào, chẳng ích gì khi làm quá vấn đề như thế. Gửi cho tôi số hộ chiếu của cô, ngày và nơi cấp. Tôi cần chúng để đặt vé cho cô.
Cô : Ngừng cái kiểu ra lệnh và nói chuyện với tôi như đối với một đứa con nít của anh đi ! Anh không phải là bố tôi !
Anh : Dĩ nhiên rồi, ơn trời...
Cô : Và ngừng cả việc lục lọi cuộc sống riêng tư và những cuộc điều tra của tôi ngay !
Anh : Những cuộc điều tra của cô ? Tôi cũng nhắc cô nhớ rằng cô đã không còn là cảnh sát lâu rồi.
Cô : Tôi không thể hiểu nổi tại sao anh lại quấy rầy tôi cũng như cả cái điều mà anh đang tìm kiếm là gì. Anh muốn tôi phải kể lể ra hết à ?
Anh : Đừng nực cười thế, tôi chỉ muốn giúp đỡ cô thôi.
Cô : Hãy bắt đầu bằng việc tự giúp chính mình ấy.
Anh : Ý cô là sao ?
Cô : Tôi muốn nói là cuộc sống của anh cũng là một mớ hỗn độn mà thôi và vợ cũ của anh cũng giấu anh khá nhiều điều đấy.
Anh : Điều gì cho phép cô khẳng định như vậy ?
Cô : Tôi cũng đã tìm tòi một vài chuyện...
Anh : Thêm một lí do để chúng ta gặp mặt, đúng không ?
Cô : Tôi không có gì để nói với anh cả.
Anh : Nghe này, tôi có vài thông tin mới về Alice Dixon.
Cô : Anh rảnh rỗi thật...
Anh : Để tôi giải thích...
Cô : Anh tự đi mà tìm một mình !

Cô đã gác máy. Anh cố gắng gọi lại cho cô, nhưng cô đã tắt điện thoại. Ôi trời ! Cô ấy không hoan nghênh việc này…

Một loạt tia chớp xuất hiện cùng những đám mây đen và rồi sấm sét gầm lên. Trời tiếp tục mưa bão dữ dội. Jonathan không có cả áo mưa và dù, còn áo khoác của anh thì đã ướt một cách thảm hại. Anh cố gắng gọi một chiếc taxi, nhưng ở đây không phải là New York. Bực mình, anh đi bộ đến ga Montparnasse và hòa mình vào dòng người. Dáng vẻ đen thẫm và sừng sững của ngọn tháp xấu xí này làm xấu đi bầu trời của Paris. Giống như bất cứ lần nào anh đến khu phố này, anh đều tự hỏi tại sao người ta lại có thể xây dựng một tòa nhà vừa tối tăm, đáng sợ, vừa mất thẩm mỹ như vậy.

Anh vừa leo lên một chiếc taxi đúng lúc một âm thanh nhẹ nhàng và vui vẻ báo hiệu một tin nhắn vang lên trong túi chiếc áo đẫm nước của anh.
Đó là một tin nhắn của Madeline. Trong đó là một dãy chữ và số cùng với nội dung : « Đã gửi đến Manchester, ngày 19 tháng 6 năm 2008. »

*

Ở Charles-de-Gaulle, Jonathan lấy chuyến bay của hãng Air France xuất phát lúc 21h10. Chuyến bay kéo dài bảy tiếng năm mươi lăm phút và sẽ hạ cánh tại sân bay New York JFK lúc 23h05.

Madeline rời San Francisco lúc 14h30. Cô đã nhận được mail có chiếc vé điện tử như Jonathan đã hứa. Chuyến bay đến New York kéo dài năm tiếng hai mươi lăm phút. Lúc đó là 22h55 khi máy bay hạ cánh xuống sân bay JFK.

*

New York
Vừa mới xuống máy bay, Jonathan đi xem xét ngay lịch trình các chuyến bay đến trên bảng điện tử. Chuyến bay của Madeline đã hạ cánh trước chuyến của anh mười phút. Không biết cô đang ở đâu, anh do dự định gọi cho cô, rồi chợt thấy nhà hàng Cổng trời, nơi đã xảy ra sự đụng độ của họ.

Có thể là ở đó…

Anh đến gần quán cà phê và nhìn qua tấm kính. Madeline đang ngồi tại bàn với một ly cà phê va một chiếc bánh vòng. Anh mất một lúc để nhận ra cô. Phong cách thời trang thanh lịch đã nhường chỗ cho một cô nàng thành thị năng động. Lớp trang điểm cũng đã biến mất. Một đôi Converse thay thế cho đôi giầy cao gót, một chiếc áo khoác da đánh bật chiếc áo măng tô Prada, và một chiếc túi màu xanh thủy thủ để trên ghế đã chiếm ngôi của những thứ hành lý sang trọng đắt tiền.

Tóc cô được búi gọn gàng, vài sợi tóc vàng buông nhẹ trên mặt cô, che đi phần nào vết sẹo nhưng cũng mang lại một vẻ thật nữ tính cho diện mạo mới của cô. Jonathan gõ nhẹ hai lần lên kính, giống như anh đang gõ cửa. Cô ngước mắt lên nhìn anh và ngay lập tức anh nhận ra rằng cô gái trước mặt anh không có vẻ gì giống với người phụ nữ xinh đep duyên dáng mà anh đã gặp vào thứ bảy tuần trước. Anh chàng thám tử của Manchester quả là đã bị chinh phục bởi cô nàng bán hoa của Paris.

- Chào buổi tối, anh nói trong khi đến gần chiếc bàn.

Đôi mắt của Madeline đỏ lên bởi sự thiếu ngủ và ánh lên vẻ mệt mỏi.

- Chào buổi tối… tôi còn không biết giờ là mấy giờ, hay là ngày mấy nữa…
- Tôi mang trả cho cô đây, anh nói và đưa cô chiếc điện thoại.

Đến lượt mình, cô lục lọi trong túi để lấy máy của Jonathan và đưa nó về phía anh.
Từ bây giờ, họ không còn đơn độc nữa.
hagiang1310 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn

Trả lời

Bookmarks

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ GMT. Giờ hiện tại là 03:06 PM.



vBulletin Optimisation by vB Optimise.