Welcome, Khách Viếng Thăm.

Nếu đây là lần đầu bạn ghé thăm diễn đàn, xin mời bạn xem phần Hướng dẫn đọc và xem eBook. Hoặc bạn cũng có thể ghi danh để theo dõi và tham gia thảo luận cùng chúng tôi.

Góc dịch các tác phẩm tiếng Hoa Cho phép nhiều nhóm cùng dịch 1 tác phẩm để học hỏi kinh nghiệm dịch thuật...

Trả lời
Old 06-03-2012, 04:53 PM   #21
trangceline2008
Mọt sách
 
Tham gia ngày: Oct 2010
Bài gởi: 203
Xin cảm ơn: 7
Được cảm ơn 904 lần trong 168 bài
Default

9

Đường Phong ôm Lương Viện từ từ ngoi lên mặt nước, chiếc trực thăng S-76 từ từ bay lơ lửng trên đầu họ, mặt biển bị gió quạt thổi từ chiếc trực thăng làm dậy lên từng lớp sóng khổng lồ, trực thăng thả thang dây xuống, Đường Phong tay phải kéo thang dây, tay trái ôm Lương Viện, khó nhọc leo lên. Trước khi Lương Viện bị uống vài ngụm nước biển mặn chát vốn đã bất tỉnh nhân sự, giờ thì đã tỉnh lại, thấy mình được Đường Phong ôm chặt cứng, cô vừa xấu hổ vừa giận dữ, điệu đà gào lên với Đường Phong: “Anh bỏ tôi ra, đồ tồi, định lợi dụng cơ hội sàm sỡ tôi hả?”.
Nhưng Lương Viện càng gào, đôi ngực căng tròn mây mẩy của cô càng áp sát vào lồng ngực rắn rỏi của Đường Phong, khiến cô càng thêm xấu hổ tức giận. Đường Phong lúc này vừa mệt vừa lạnh, làm gì rảnh rỗi mà có hứng sàm sỡ gái đẹp, anh khẽ hét lên với Lương Viện: “Đừng động đậy nữa, nếu còn ngọ nguậy, tôi mà buông tay thật thì cô sẽ rơi xuống biển đấy!”
“Tôi rơi xuống biển cũng không cần anh lo, đồ lưu manh!” - Lương Viện vẫn ngoan cố. Đúng lúc này, chiếc trực thăng phía trên không hiểu vì lí do gì đã lắc mạnh một cái, Lương Viện hét toáng lên, lúc này thì hay rồi, Đường Phong không cần phải làm gì, cô ta đã chủ động ôm chặt lấy cổ anh, hơn nữa lại còn ôm rất chặt, tới nỗi Đường Phong không thở được…
Khi Đường Phong và Lương Viện được cứu lên bờ, thì Hàn Giang đã đợi ở trên đó từ rất lâu rồi. Đường Phong mặt trắng bệch, thở hổn hển hỏi Hàn Giang: “Sao anh tới Hồng Kông nhanh vậy?”
“Hừm! Tôi đến muộn một bước, cái mạng quèn của cậu đã nộp lại đây rồi” - Rồi Hàn Giang chững lại một lúc, quay đầu về phía Lương Viện hỏi: “Vị này là... tiểu thư Lương Viện sao?”
“Đúng, cô ta chính là thiên kim Lương Viện - con gái của Lương Dũng Tuyền” - Đường Phong trả lời thay Lương Viện.
“Cô hoảng sợ lắm phải không? Tôi là Hàn Giang, hiện đang phụ trách vụ án của ông nội cô, cũng phụ trách cả sự việc này. Nếu cô có ý kiến, yêu cầu hay là nhớ ra manh mối gì có giá trị về sự việc này đều có thể nói với tôi” - Hàn Giang vừa nói vừa thân thiện bắt bắt tay Lương Viện.
Lương Viện nhìn Hàn Giang, đưa ra yêu cầu của mình: “Yêu cầu duy nhất của tôi chính là cùng hành động với các anh, tóm lấy hung thủ sát hại ông nội tôi”.
“Việc này…” - người vốn luôn hành sự quyết đoán như Hàn Giang cũng bắt đầu trở nên do dự.
“Sao? Anh không đồng ý? Nếu anh không đồng ý, tôi sẽ không giao kệ tranh ngọc cho các anh!” - Lương Viện cứng đầu nói .
“Anh thấy rồi đấy, cô tiểu thư này mới là kẻ đeo bám vướng víu!” - Đường Phong nói nhỏ bên tai Hàn Giang.
Trong lúc Hàn Giang đang khó xử thì một chiếc trực thăng từ từ hạ xuống bên cạnh họ. Triệu Vĩnh xách chiếc cặp khóa số nhảy ra khỏi trực thăng, báo cáo với Hàn Giang: “Chiếc cặp đã được tôi giành lại, chỉ có điều không biết vật đó có còn nguyên vẹn hay không?”.
“Đúng! Chính là chiếc cặp này!” - Không chờ Hàn Giang mở miệng, Đường Phong đã nhận ngay ra chiếc cặp có để kệ tranh ngọc đang ở trong tay Triệu Vĩnh.
Lương Viện giành ngay lấy chiếc cặp khóa số trong tay Triệu Vĩnh, rồi cho tới khi nhìn thấy kệ tranh ngọc còn nguyên vẹn cô mới yên tâm. Đoạn cô lại quay đầu, hỏi Hàn Giang: “Sao rồi, đội trưởng Hàn, suy nghĩ xong chưa? Cho phép tôi tham gia không?”
Hàn Giang bó tay lắc lắc đầu, nhưng anh không lập tức đồng ý với Lương Viện ngay, mà hỏi lại cô ta: “Lương tiểu thư, cô có biết đám người mưu đồ bắt cóc bọn cô là ai không?”
“Làm sao mà tôi biết được! Có bao nhiêu người hứng thú với kệ tranh ngọc. Nhưng… nhưng tôi nghi ngờ đám người này rất có khả năng chính là đám người đã giết hại ông nội tôi.” - Lương Viện suy đoán.
“Làm thế nào mà biết được?”
“Trực giác mách bảo tôi vậy, trực giác của tôi từ trước tới nay đều rất chuẩn.”
Khà khà, xem ra cô giống hệt tôi, đều rất tin vào trực giác của mình.” - Trực giác của Hàn Giang đã từng nhiều lần giúp anh hóa giải hoạn nạn, anh luôn tự hào về điều đó, nhưng lúc này đây anh vẫn muốn tin vào những chứng cứ hơn.

10

Lúc này, một chiếc Mercedes đã dừng lại ngoài đường cảnh giới, Hàn Giang nhìn thấy người đang xuống xe chính là Lương Dũng Tuyền, anh hất hất tay về phía cảnh sát của cảnh giới tuyến, Lương Dũng Tuyền liền vượt qua cảnh giới tuyến, bước về phía họ.
Lương Dũng Tuyền mặt mày sa sầm, sau khi bắt tay Hàn Giang xong liền nhìn chằm chằm Đường Phong và Lương Viện, một lúc sau mới mở miệng nói: “Sao rồi? Đường Phong, tôi đã nói trước rồi, đám người đó sẽ không khách sáo với cậu như tôi đâu, giờ thì cậu đã ý thức rõ ràng về những nguy hiểm mà các cậu phải đối diện rồi chứ?”
“Đúng vậy, nhóm tội phạm này thực sự rất lớn mạnh”. - Đường Phong không thể không thừa nhận.
“Còn con nữa, Lương Viện!” - Lương Dũng Tuyền quay lại nói với Lương Viện: “Giờ thì chắc con cũng đã biết sự việc này nguy hiểm đến nhường nào rồi, con còn muốn đi cùng nhóm của Đường Phong không?”
“Muốn! Cha, bây giờ Hoàng Đại Hổ đã chết, cha hãy để con đi cùng Đường Phong và các anh ấy, nhất định con sẽ tóm được hung thủ sát hại ông nội.” - Lương Viện ngây thơ nhìn Lương Dũng Tuyền.
Lương Dũng Tuyền vừa nghe thấy những lời này, tức giận tới nỗi cứng miệng không thốt nên lời. Ông trợn mắt nhìn Lương Viện, kìm nén mãi, cũng không thốt ra được lấy một câu, rút cuộc, hậm hực lườm Lương Viện một cái rồi bực tức bỏ đi.
Triệu Vĩnh mang chiếc cặp khóa số đựng kệ tranh ngọc nhảy lên trực thăng, trên bờ chỉ còn lại ba người Đường Phong, Lương Viện và Hàn Giang. Cả ba đều đang đăm chiêu suy nghĩ về kế hoạch bước tiếp theo của riêng mình, bỗng Đường Phong đột nhiên hỏi Lương Viện: “Tôi có một câu muốn hỏi cô mãi... Ông nội cô đã từng nói gì với cô trong thời gian sau khi mua kệ tranh ngọc về? Hoặc là… hoặc là có hành động bất thường nào không?”
Lương Viện nghĩ một lúc rồi nói: “Sau khi mua kệ tranh ngọc này về, ông nội thường ở trong phòng, giống như đang nghiên cứu gì đó vậy, có lúc ông nội cũng đi ra ngoài thăm một số người bạn cũ, đều là người quen của ông nội. Còn nữa, ông nội không cho tôi và cha tiếp xúc với kệ tranh ngọc này, tôi cũng chỉ mới nhìn thấy nó có một lần sau hội chợ đấu giá, ngoài những điều này ra, tôi không thấy ông nội có gì không bình thường”.
“Cô nghĩ tiếp xem, thật sự hết rồi sao?” - Đường Phong vẫn hy vọng có thể lấy được một vài manh mối có giá trị từ Lương Viện.
Lương Viện ngẫm nghĩ hồi lâu, ánh mắt đột nhiên sáng lên: “Đúng rồi, nếu anh không nhắc tôi cũng quên mất, trước khi đi Quảng Châu ông nội tôi có nhận được một bức thư”.
“Thư?” - Đường Phong và Hàn Giang đều kinh ngạc.
“Ừm, chính trong sáng hôm đó, tôi phát hiện ra một bức thư trong hòm thư, thư gửi cho ông nội, nhưng trên phong bì lại không đề địa chỉ của người gửi, lúc đó tôi cảm thấy rất lạ, thời buổi này còn có ai viết thư nữa nhỉ? Thêm nữa, còn không có địa chỉ của người gửi, sau đó, tôi đưa thư cho ông nội. Bây giờ nghĩ lại, có lẽ việc ông nội đi Quảng Châu chắc là có liên quan rất lớn tới bức thư đó”.
“Bức thư đó bây giờ có còn không?” - Đường Phong truy hỏi.
“Ông nội xem xong đã đốt ngay rồi. Tôi hỏi ông nội về nội dung bức thư, ông nội chỉ nói muốn một mình yên tĩnh một lúc, tôi liền rời khỏi phòng sách. Ông nội ở lại một mình trong phòng sách khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ, tôi đợi tới khi ông ra, thì ông nói với tôi là ông phải đi Quảng Châu một chuyến. Lúc đó tôi nói muốn đi cùng ông, nhưng ông nội không cho và nói hôm sau có thể sẽ quay luôn, nhưng không ngờ…” - Lương Viện nói tới đây, đã lại bắt đầu thút thít.
“Đốt rồi?... Xem ra Lương tiên sinh đi Quảng Châu không chỉ vì tìm tôi” - Đường Phong lẩm bẩm.
“Thông tin mà Lương Viện nói cũng rất quan trọng, mục đích mà Lương lão tiên sinh đến Quảng Châu có lẽ là để có được những hồ sơ tài liệu này, sau khi có được những hồ sơ tài liệu này, ông mới đi tìm Đường Phong, sự việc sau đó, chúng ta đều đã biết rồi” - Hàn Giang phân tích.
“Những hồ sơ đó rút cuộc có giá trị gì đối với việc giải mã bí mật của kệ tranh ngọc?” - Đường Phong không hiểu nên thắc mắc.
“Vậy thì phải đợi tới khi chúng ta quay lại Bắc Kinh mới biết được.” - Hàn Giang nói xong, một cơn gió biển mặn chát thổi tới, tuy là mùa hè, nhưng gió biển lại khiến cả ba người khẽ rùng mình vì lạnh.
(còn tiếp)
CHƯƠNG 5
Bảy bức thư tuyệt mật
trangceline2008 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 06-03-2012, 04:54 PM   #22
trangceline2008
Mọt sách
 
Tham gia ngày: Oct 2010
Bài gởi: 203
Xin cảm ơn: 7
Được cảm ơn 904 lần trong 168 bài
Default

CHƯƠNG 5
Bảy bức thư tuyệt mật


1

Trong một căn nhà cao tầng với vẻ ngoài rất phổ biến nằm ở ngoại ô phía tây Bắc Kinh, Triệu Vĩnh dẫn Đường Phong và Lương Viện vào một căn mật thất kéo rèm dày cộm. Trong mật thất, ngoài Hàn Giang, còn có một lão tiên sinh tóc bạc phơ ngồi trên xe lăn đang hiền từ nhìn Đường Phong và Lương Viện cùng một người đàn ông khác chạc tuổi Hàn Giang, tay cầm tẩu thuốc, đeo kính gọng vàng, dáng vẻ học thức.
Đường Phong và Lương Viện ngồi ngay ngắn, Hàn Giang mở lời: “Ngồi ở đây đều là người của chúng ta, tôi sẽ nói thẳng luôn; trước tiên, tôi thay mặt tổng bộ cảm tạ tiểu thư Lương Viện và tiên sinh Lương Dũng Tuyền đã trao lại kệ tranh ngọc nổi gân cổ chạm châu báu Tây Hạ. Xin tiểu thư Lương Viện hãy yên tâm, sau khi sự việc này kết thúc, kệ tranh ngọc đương nhiên sẽ được hoàn lại nguyên vẹn, ngoài ra, thông qua phê chuẩn đặc biệt của tổng bộ, sẽ cho phép cô tham gia hành động của chúng tôi”.
“Ồ! Đội trưởng Hàn, thật sao?” - Lương Viện không dám tin vào điều đó.
Hàn Giang trịnh trọng gật gật đầu: “Đúng vậy, Lương tiểu thư, cô không nghe lầm, tuy cô không phải là thành viên chính thức của lão K, nhưng tôi đã coi cô như là một trong những thành viên của chúng tôi rồi”.
“Hì hì, Đường Phong không cho tôi tham gia, anh ta luôn cự nự với tôi” - vừa nói, Lương Viện vừa lườm Đường Phong một cái, Đường Phong chẳng biết phải làm sao, chỉ lắc đầu, khiến mọi người đều bật cười.
Cười xong, Hàn Giang chỉ vào một vị tiên sinh tóc bạc phơ, nói với Đường Phong và Lương Viện: “Vị này chắc không cần phải giới thiệu với các bạn nữa đâu nhỉ, nhà sử học nổi tiếng, giáo sư La Trung Bình. Giáo sư La Trung Bình bao năm nay đắm đuối nghiên cứu lịch sử Tây Hạ, nhiều năm chuyên sâu nghiên cứu khảo sát cố địa Tây Hạ, là người rất có uy tín trong lĩnh vực Tây Hạ học ở nước ta. Đường Phong, cậu và giáo sư La cũng được coi là quen biết lâu rồi, chắc cậu vẫn chưa biết, giáo sư La cũng là thành viên của lão K chúng ta đấy!”.
Đường Phong nghe thấy, vô cùng kinh ngạc. La Trung Bình gật đầu: “Đúng vậy, tôi chính là K4, đội trưởng Hàn là bang chủ, cứ nhất định lôi bộ xương già như tôi vào đấy”. Nói xong, giáo sư La quay lại nói với Lương Viện: “Viện Viện, ông là bạn thân lâu năm của ông nội cháu, ông rất buồn khi ông nội cháu gặp nạn, cháu phải tin rằng đội trưởng Hàn chắc chắn sẽ tóm được hung thủ, chúng ta nhất định sẽ hóa giải những bí mật bao trùm lên kệ tranh ngọc”. Lương Viện mắt ngấn lệ, gật đầu lia lịa.
Lúc này, Hàn Giang lại giới thiệu tiếp: “Giáo sư La học vấn tinh thông từ cổ chí kim, không những chỉ chuyên sâu nghiên cứu lịch sử và văn tự cổ, mà còn tinh thông vài ngoại ngữ; những tài liệu mà các cậu mang về, giáo sư La đã dịch hết ra rồi, sau đây sẽ mời giáo sư La giảng giải sơ bộ cho chúng ta”.
Giáo sư La nhìn mọi người đã ngồi yên vị, lúc này mới lấy những tài liệu bí mật đó ra, bắt đầu giới thiệu: “Những tài liệu tiếng Nga mà các cậu mang về này quả thật rất khó hiểu. Đây đều là những tài liệu tối mật, tôi không biết những tài liệu này sao lại lưu lạc trong nước, nhưng chúng thật sự rất quan trọng, hỗ trợ rất lớn cho việc chúng ta giải mã những bí mật phía sau kệ tranh ngọc. Tôi đã xem xét tất cả tài liệu, phần lớn đây là tài liệu nghiên cứu lịch sử Tây Hạ của một vài học giả Liên Xô, còn cả một ít văn kiện thông thường, nhưng trong đó có một phần tài liệu vô cùng quan trọng.” - Nói xong, giáo sư La đưa cho mọi người xem phần tài liệu tuyệt mật của KGB.
Mọi người đổ dồn ánh mắt lên văn kiện tuyệt mật trong tay giáo sư La. Giáo sư La nhấc cặp kính lão, mở tập tài liệu tuyệt mật trên bìa có in ba chữ tiếng Nga màu đen “КГВ”, “tập tài liệu tuyệt mật của KGB này, thực ra là 7 bức thư tuyệt mật”.
“Bảy bức thư tuyệt mật?” - mọi người đều ngạc nhiên thắc mắc.
Nét mặt giáo sư La đanh lại, ông bắt đầu đọc và giải thích bảy bức thư tuyệt mật này: “Tôi đã dịch bảy bức thư này sang tiếng Trung, sau đây mọi người xem đi, xem xong sẽ nộp lại để thống nhất bảo quản”.

2

Bức thư thứ nhất là vào năm 1938, thư của nhà Hán học Liên Xô nổi tiếng Ivanovich Ivanov (Aleksei Ivanovich Ivanov) gửi cho Lavrentiy Beria (Lavrenti Pavles dze Beria) thời đó là người đứng đầu cơ quan tình báo.

Đồng chí Lavrenti Pavles dze Beria:
Hãy cho phép tôi được gọi ngài như vậy. Theo như chỉ đạo của ngài và thuộc hạ của ngài dành cho tôi, những ngày này, trong nhà giam, tôi đã suy nghĩ đi suy nghĩ lại, mấy chục năm qua, bất luận là ở Trung Quốc, hay là ở nước ngoài, tôi luôn cố gắng hết sức trung thành phục vụ quốc gia. Từ trước tới nay chưa từng làm bất cứ một việc gì bất lợi cho quốc gia và nhân dân, bởi vậy, chỉ đạo của ngài và thuộc hạ của ngài khiến tôi không sao chấp nhận được.
Nếu như nói rằng những năm qua tôi đã làm sai việc gì, vậy thì, việc tôi có thể nghĩ ra chính là thành quả nghiên cứu mà tôi đã giấu ngài và quốc gia. Tôi đã làm việc này là vì thành quả nghiên cứu này khiến tôi vô cùng kinh ngạc, trước khi rút ra được kết luận cuối cùng, tôi không biết có nên công bố kết quả này với thế giới hay không. Nhưng, hiện giờ tôi đã quyết tâm, quyết định “thẳng thắn” với ngài, bởi vì nếu nhỡ tôi chết rồi, thành quả nghiên cứu này sẽ không còn ai biết, nếu thế tôi có chết cũng không nhắm được mắt.
Thành quả nghiên cứu này liên quan tới bí mật về một báu vật của cung điện Mùa Đông được chôn giấu. Đương nhiên, báu vật này không xuất thân từ cung điện, mà đến từ Đông Phương xa xôi. Hơn 900 năm qua, tại phía tây Trung Quốc đã từng xuất hiện một đế quốc do người Đảng Hạng gây dựng, sùng bái màu trắng, người Hán gọi đế quốc này là “Tây Hạ”, người Mông Cổ gọi quốc gia này là “Đường Ngột Thích”. Đế quốc màu trắng này một thời từng ở trên đỉnh cao của lịch sử Trung Quốc, mãi tới tận năm 1227 mới bị Thành Cát Tư Hãn diệt vong. Kể từ đó, tất cả những gì liên quan tới đế quốc màu trắng liền mất tích, chôn vùi trong sa mạc cát vàng miên man, giống như chưa từng tồn tại thế giới này.
Mấy trăm năm sau, khi nhân thế đã hoàn toàn lãng quên đế quốc màu trắng này, nhà thám hiểm trứ danh Coats Ivanov của nước ta trong một chuyến khảo sát Tây Hạ, Trung Quốc, đã vô tình phát hiện ra Hắc Thành - một tòa thành cổ thời Tây Hạ đã bị cát vàng chôn vùi từ lâu. Trong tòa thành cổ này, Coats Ivanov đã tìm thấy một lượng lớn văn hiến Tây Hạ và tượng phật quý báu cùng rất nhiều văn vật khác, trong đó, có một văn vật Tây Hạ vô cùng quý hiếm, nó được gọi là “kệ tranh ngọc nổi gân cổ chạm châu báu”. Từ rất lâu rồi không ai biết tới báu vật này, và nó ngủ say trong kho văn vật của cung điện Mùa Đông. Cũng giống như Coats Ivanov vô tình phát hiện thấy Hắc Thành, trong một lần tình cờ, tôi đã phát hiện ra báu vật mà Coats Ivanov mang về từ Hắc Thành đó trong cung điện Mùa Đông. Bao năm qua, tôi đã nghiên cứu tìm tòi để giải mã bí mật của báu vật này. Mấy lần trước tới Trung Quốc điều tra thực địa, cuối cùng tôi đã phát hiện ra, phía sau báu vật này có ẩn giấu một bí mật kinh hồn… Nhưng, đúng lúc nghiên cứu của tôi tới thời khắc mấu chốt, thì tôi lại bị ngài đưa vào nhà giam.
Tôi cũng không cầu xin ngài để được tự do, nhưng xin ngài hãy suy nghĩ về lời khẩn cầu của tôi. Cho dù tôi đã phạm vào trọng tội, nhưng xin ngài hãy cho phép tôi được tiếp tục công việc nghiên cứu của mình, để bí mật kinh hồn đó được phơi bày trước ánh sáng. Hy vọng ngài sẽ cân nhắc kỹ lưỡng đề nghị của tôi, bởi dù sao thì đây cũng là việc có lợi cho ngài và cho quốc gia của chúng ta, và cũng là để đáp lại tâm nguyện cuối cùng của tôi.
Aleksei Ivanovich Ivanov

Sau khi đọc xong bức thư thứ nhất, giáo sư La nhìn mọi người nói: “Ivanovich Ivanov là nhà Hán học nổi tiếng của nước Nga, đã từng nhiều lần tới Trung Quốc, ông từng phát hiện ra cuốn “Phiên Hán hợp thời chưởng trung châu”[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ] trong số những văn vật Tây Hạ được khai quật tại Hắc Thành, đây là cuốn từ điển song ngữ tiếng Tây Hạ và tiếng Hán. Nhờ phát hiện được cuốn từ điển này, mà người đời sau đã đọc hiểu được những điều kiện sáng tạo ra văn tự Tây Hạ đã thất truyền, cũng có nghĩa là, Ivanovich Ivanov là học giả đầu tiên trong giới học thuật có thể đọc và hiểu được văn tự Tây Hạ cổ xưa. Từ bức thư này có thể nhận ra, năm 1938 Ivanovich Ivanov đã rơi vào vòng tù tội, đó cũng là lúc công việc nghiên cứu kệ tranh ngọc Tây Hạ của ông đang ở trong giai đoạn then chốt, ông không muốn từ bỏ nghiên cứu, vậy là ở trong ngục ông đã viết bức thư này cho giám đốc cơ quan tình báo Liên Xô - Beria. Trong thư có nhắc tới kệ tranh ngọc và công việc ông đang nghiên cứu, hy vọng có thể được trao trả tự do, tiếp tục công việc nghiên cứu của mình”.
“Vậy sau đó Beria có đồng ý lời thỉnh cầu của ông ấy không?” - Lương Viện nóng lòng hỏi.
Giáo sư La không vội vã cũng không chần chừ, đáp: “Vậy thì phải đọc bức thư thứ hai rồi”.

3

Bức thư thứ hai là của Beria trả lời thư cho Ivanovich Ivanov nửa tháng sau.

Aleksei Ivanovich Ivanov:
Tôi đã đọc bức thư anh viết cho tôi, với học thức uyên bác của anh, tôi rất ngưỡng mộ, đặc biệt là những nghiên cứu về “đế quốc màu trắng” của Trung Quốc cổ đại. Nhưng tôi phải nói rõ ràng với anh rằng, tôi không hứng thú với những nghiên cứu của anh, tôi cũng tin rằng quốc gia chúng ta cũng không có bất cứ hứng thú gì với việc này. Hội nghị đại biểu toàn quốc vừa trải qua một cuộc tranh luận kịch liệt, và thấy rằng nghiên cứu lịch sử của anh không có chút lợi ích gì do chúng tôi, chúng tôi cần là cần tương lai, một tương lai hoàn toàn mới, chứ không phải là quá khứ cổ xưa đại xa lắc xa lơ của anh! Tỉnh ngộ đi, Ivanovich Ivanov. Chỉ khi nào anh thực sự ngẫm nghĩ về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận với nhân dân, lúc đó anh mới có cơ hội nhận được sự khoan hồng. Ngoài ra, không còn con đường nào khác! Đừng tham vọng dựa vào những sáng tạo theo tưởng tượng về sự ly kỳ của lịch sử Đông Phương để được trao trả tự do! Được rồi, cứ vậy nhé, tôi không muốn lãng phí thời gian với anh và mớ nghiên cứu vô vị của anh, bởi vì còn rất nhiều việc đang chờ đợi tôi. Tôi cảm thấy thời gian đang rất thúc gấp gáp, còn anh, thời gian còn lại cũng không nhiều nữa đâu, hy vọng anh tự lo cho mình.

Lavrenti Pavles dze Beria

“Từ bức thư thứ hai có thể nhận thấy, Beria lúc đó chức cao vọng trọng, ra điều ngạo mạn, ông không hứng thú với nghiên cứu của Ivanovich Ivanov, càng không tin tưởng cái gọi là thành quả nghiên cứu mà Ivanovich Ivanov nói tới, nên đương nhiên sẽ không phê chuẩn cho ông ta tiếp tục nghiên cứu. Beria thậm chí còn cho rằng Ivanovich Ivanov vì muốn mưu cầu mạng sống nên đã tự tưởng tượng ra bí mật Đông Phương gì đó. Thậm chí sau đó Beria cũng không thay đổi ý định, Ivanovich Ivanov có viết thư tiếp cho Beria nữa hay không, chúng ta cũng không biết được, bởi vì sau đó không có bất cứ thông tin gì liên quan tới vấn đề này.” - Đường Phong đọc xong bức thư thứ hai, mở lời trước.
Giáo sư La Trung Bình gật đầu: “Đúng vậy, hai bức thư này hoàn toàn phù hợp với tình hình mà tôi tìm hiểu được. Theo như tôi biết, Ivanovich Ivanov và Aleksandrovich Nevsky - người học trò mà ông hài lòng nhất, đều chết vì trận “đại gột rửa”, vào khoảng năm 1938. Vì cái chết của Ivanovich Ivanov và nhiều người khác mà từ đó trở về sau, càng không có ai nghiên cứu những văn tự và văn vật Tây Hạ đó nữa. Nên tôi suy đoán tấm kệ tranh ngọc Tây Hạ từ đó trở đi chắc là cứ nằm mãi trong kho văn vật của cung điện Mùa Đông”.
“Vậy sao lại có đội thám hiểm liên hợp đó nhỉ? Chắc chắn là sau đó có người bắt đầu nghiên cứu lại về kệ tranh ngọc Tây Hạ” - Đường Phong suy đoán.
Giáo sư La gật gù đồng tình: “Đường Phong, cậu nói không sai, sau đó lại có người phát hiện ra kệ tranh ngọc Tây Hạ này và bắt đầu tiến hành nghiên cứu lại. Người này chính là giáo sư Hán học thế hệ mới Menshikov, năm đó ông mới gần 20 tuổi, đang học tại Đại học Leningrad; thầy giáo của ông ta là nhân vật xuất chúng trong giới Hán học Liên Xô lúc đó, Alekseev. Cũng chính nhờ phát hiện và nỗ lực của họ nên mới có đội thám hiểm liên hợp sau này, tiếp theo chúng ta sẽ tiếp tục đọc bức thư thứ ba”.

[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ]() “Phiên Hán hợp thời chưởng trung châu”: tên tiếng Anh là “Pearl the Palm” - ND.
trangceline2008 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 06-03-2012, 04:57 PM   #23
trangceline2008
Mọt sách
 
Tham gia ngày: Oct 2010
Bài gởi: 203
Xin cảm ơn: 7
Được cảm ơn 904 lần trong 168 bài
Default

4

Bức thư thứ ba là vào năm 1951, Menshikov (Lev N. Menshikov) sau này trở thành giáo sư Hán học nổi tiếng, viết cho thầy giáo của ông viện sỹ Viện khoa học Liên Xô, nhà Hán học nổi tiếng Alekseev (Vasily Mikhailovich Alekseev):

Thưa thầy kính mến,
Khi viết bức thư này, em cảm nhận rõ đôi tay mình đang run rẩy. Thầy đừng lo lắng, đây không phải vì nguyên nhân sức khỏe của em, mà là bởi một sự thật kinh hoàng mà hôm qua em phát hiện được ở cung điện Mùa Đông đã khiến em kích động vô cùng.
Tuần trước, theo sự chỉ đạo của thầy, em và Misha đã đến thực tập tại viện khoa học viện nghiên cứu Đông Phương học, khi tra cứu và đọc những tài liệu nghiên cứu phức tạp này, Misha vô tình phát hiện ra một số tài liệu nghiên cứu mà Ivanovich Ivanov viết vào những thập niên 20, 30. Thày đã biết rồi đấy, tìm kiếm tài liệu là việc làm khô khan và đau khổ, nhưng phần tài liệu nghiên cứu này của Ivanovich Ivanov lại khiến em và Misha vô cùng kích động và phấn khích. Trong phần tài liệu này, Ivanovich Ivanov có nhắc tới, vào cuối thập niên 20, ông vô tình phát hiện ra một báu vật đến từ vương triều Tây Hạ Trung Quốc trong cung điện Mùa Đông, tên gọi của báu vật này là “kệ tranh ngọc nổi gân cổ chạm châu báu”. Theo như Ivanovich Ivanov nói thì, kệ tranh ngọc này có khắc rất nhiều ký hiệu kỳ quái, Ivanovich Ivanov đã nghiên cứu kệ tranh ngọc này trong một thời gian dài, phán đoán những kí hiệu kỳ quái trên kệ tranh ngọc đó chính là văn tự Tây Hạ đã biến mất từ lâu, và ông đã nhận diện được một số văn tự Tây Hạ trên bề mặt kệ tranh, rồi thông qua việc giải nghĩa những văn tự này, ông đã phát hiện ra một bí mật kinh hoàng ẩn giấu phía sau báu vật Tây Hạ đó. Đáng tiếc là sau đó Ivanovich Ivanov đã bị chết trong ngục nên ông đã không thể tiếp tục hoàn thành nghiên cứu của mình.
Đọc tới đây, em và Misha đã không thể chờ đợi thêm được nữa, hai chúng em lập tức lao tới cung điện Mùa Đông. Trong kho văn vật ngun ngút của cung điện Mùa Đông, rút cuộc chúng em cũng tìm thấy kệ tranh ngọc Tây Hạ đó. Khi em mở chiếc hộp gỗ tử đàn có đựng kệ tranh ngọc ra, em vô cùng kinh ngạc, đây là một báu vật tuyệt mỹ mà em chưa từng được chiêm ngưỡng, em không biết còn có thể dùng từ ngữ nào để hình dung cảm giác của em lúc đó. Kệ tranh ngọc được tạc thành từ cả tấm bạch ngọc Nephrite vùng Hòa Điền Tân Cương, khung kệ tranh ngọc có chạm khắc hai vòng hoa sen cuốn quanh, giữa hai vòng hoa sen lại chạm khắc một hàng châu báu. Em nhìn thấy những ký hiệu kỳ quái trên kệ tranh ngọc, đó có lẽ chính là văn tự Tây Hạ đã biến mất từ lâu mà Ivanovich Ivanov từng nhắc đến. Tuy cả em và Misha đều không hiểu nổi một kí tự nào trên đó, nhưng hai chúng em đều cảm thấy những kí hiệu không ai hiểu đó đúng như Ivanovich Ivanov từng nói, nhất định chứa đựng một bí mật kinh khủng nào đó.
Em và Misha quyết định tiếp tục ở lại cung điện Mùa Đông nghiên cứu kệ tranh ngọc Tây Hạ này, và sẽ lấy chủ đề đó để viết luận văn. Em gửi kèm theo thư này hai bức ảnh của kệ tranh ngọc Tây Hạ, hy vọng nhận được sự giúp đỡ và chỉ đạo của thầy.
Chúc thầy mau chóng phục hồi sức khỏe!
Học sinh của thầy
Đọc xong bức thư thứ ba, tất cả mọi người trong mật thất đều im lặng, họ lại tiếp tục giở bức thư thứ tư ra.

5

Bức thứ tư là thư hồi âm của Alekseev cho Menshikov.

Lev N. Menshikov thân yêu:
Đang bệnh nhận được thư của em, thầy được an ủi rất nhiều. Không! Đúng ra phải nói là phấn khích, thư của em khiến thầy củng cố thêm lòng tin, thầy là người đã động viện em chọn lựa con đường nghiên cứu học thuật này. Thầy biết, với một thanh niên trẻ tuổi như em, cả ngày vùi đầu nghiên cứu trong đống hồ sơ, tài liệu, sách vở quả là rất khô khan, đặc biệt lại là nghiên cứu văn minh Phương Đông xa lắc và cổ xưa. Nhưng, chàng thanh niên, mong em hãy tin vào tầm nhìn của thầy, thầy không thể nhìn lầm em, em rất có thiên phú trong lĩnh vực này, chỉ cần em kiên trì, thầy tin rằng, sau này em nhất định sẽ thay thế thầy, vượt qua thầy.
Thầy rất vui mừng khi thấy em hứng thú với văn minh Tây Hạ. Em biết rồi đấy, nhờ phát hiện kinh động thế giới của Coats Ivanov về Hắc Thành tại Trung Quốc năm 1909, quốc gia chúng ta đã nắm giữ được một lượng lớn văn hiến, tài liệu, văn vật gốc về nghiên cứu lịch sử và văn hóa Tây Hạ, mà thậm chí là cả Trung Quốc, cố hương của nền văn minh này, cũng không thể có nhiều tài liệu gốc như vậy. Do đó, văn minh Tây Hạ tại Trung Quốc và cả nghiên cứu về Tây Hạ học đều đang ở chỗ chúng ta. Nhưng bất hạnh ở chỗ, kể từ sau khi Ivanovich Ivanov chết, nghiên cứu về văn minh Tây Hạ của chúng ta đã bị ngắt quãng, chúng ta hiện giờ đang vô cùng thiếu những học giả trẻ như em, tiến hành những nghiên cứu liên quan, rồi nhất định sẽ tới một ngày chúng ta có thể quảng bá Tây Hạ học.
Còn về báu vật em nhắc tới trong thư, từ những năm trước, Ivanovich Ivanov đã từng đề cập tới với thầy, nhưng sau đó cùng với sự ra đi của ông, báu vật này cũng dần bị người ta quên lãng, nếu không có sự nhắc nhở của em, có lẽ tới lúc chết thầy cũng không nhớ ra báu vật đó. Dựa vào kinh nghiệm lâu năm và trực giác của thầy, thầy có thể khẳng định với em rằng, nghiên cứu của em và Misha về kệ tranh ngọc Tây Hạ này rất quan trọng. Thông qua tường thuật của em trong thư, và cả hai bức ảnh đó nữa, thầy tin rằng ý nghĩa của kệ tranh ngọc Tây Hạ này vô cùng trọng đại. Thầy vẫn chưa biết nó ẩn giấu bí mật gì, nhưng thầy tin tưởng vào trình độ học thuật của Ivanovich Ivanov, bởi ông đã nhiều năm nghiên cứu báu vật này, mà đến khi chết vẫn lưu luyến không quên, nên nhất định là có phát hiện gì quan trọng về nó.
Viết tới đây thôi, hy vọng sẽ được gặp mặt nói chuyện với em và Misha, và để tận mắt nhìn thấy báu vật Tây Hạ đó. Cuối cùng, than vãn với em một câu, mùi bệnh viện thực là quá khó ngửi, bác sỹ ở đây cũng rất đáng ghét, nên rất mong sớm được ra viện để được công tác cùng các em.
Đúng rồi, thầy đột nhiên nhớ ra câu thơ, nếu như thầy nhớ không lầm, thì chắc là thế này: “Hắc Đầu Thạch Thất hoang thủy vực, xích diện phụ chủng bạch cao hà, trường di dược nhân quốc tại bỉ” (viết bằng tiếng Trung). Thập niên 30, cũng chính là trước khi Ivanovich Ivanov bị bắt, ông đã từng gửi một bức thư cho thầy. Trong thư, Ivanovich Ivanov vô cùng phấn khích, kể rằng ông đã có được bước đột phá trọng đại trong nghiên cứu Tây Hạ học, nhưng ông không nói là có được đột phá gì, mà chỉ viết mấy câu thơ không đầu không cuối này bằng chữ Hán ở cuối thư. Lúc đó thầy không hứng thú lắm với việc nghiên cứu về Tây Hạ, bởi vậy cũng không nghiên cứu sâu. Không ngờ, sau đó thì nghe tin Ivanovich Ivanov bị bắt giam, nên bức thư đó trở thành bức thư cuối cùng ông ấy viết cho thầy. Bởi vậy mấy năm sau đó, thầy thường lôi bức thư này ra đọc lại, rồi thời gian dài trôi qua, thầy cũng thuộc cả mấy câu thơ bằng tiếng Hán này, nhưng thầy vẫn không hiểu hàm ý của chúng. Sau đó, bức thư bị thất lạc trong chiến tranh vệ quốc, thật là đáng tiếc! Hy vọng mấy câu thơ này có thể hỗ trợ cho nghiên cứu của các em.
Vasily Mikhailovich Alekseev

Đọc xong bức thư này, Đường Phong nói: “Bức thư thứ ba và bức thư thứ tư cho thấy rõ, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, kệ tranh ngọc Tây Hạ và tài liệu nghiên cứu của Ivanovich Ivanov đã lần nữa thu hút sự chú ý của Alekseev và Menshikov cùng những học giả Liên Xô khác. Họ chắc chắn đã tiến hành nghiên cứu và đạt được những thành quả xuất chúng về vấn đề này. Nhưng rút cuộc họ nghiên cứu cụ thể tới bước nào, chúng ta cũng không biết được, nên chỉ có thể từ ngôn ngữ trong hai bức thư này để tìm ra một số manh mối mà thôi.
Giáo sư La Trung Bình đeo kính lão, nhìn hai bức thư đã được dịch ra này, trầm tư hồi lâu mới cất lời: “Quan trọng là phải xem Alekseev và Menshikov đã tìm thấy bao nhiêu tài liệu nghiên cứu của Ivanovich Ivanov. Vì từ nội dung trong thư mà phán đoán, cho tới nay Ivanovich Ivanov chắc là người tiếp cận gần nhất với chân tướng của bí mật. Bởi vậy, nếu như tài liệu nghiên cứu của Ivanovich Ivanov vẫn còn tồn tại, vậy thì, sẽ hỗ trợ rất lớn cho công tác nghiên cứu của nhóm Menshikov. Nhưng những năm 30 là thời kỳ vô cùng hỗn loạn, tài liệu nghiên cứu của rất nhiều học giả đều đã bị mất, tôi suy đoán, có lẽ Menshikov chỉ tìm thấy một phần tài liệu của Ivanovich Ivanov, còn về nghiên cứu sau này của họ, đạt được thành quả gì thì cũng không rõ nữa. Nhưng, mấy câu thơ đó…”
“Đúng vậy, mấy câu thơ đó nghĩa là gì nhỉ?” - Đường Phong truy hỏi.
Giáo sư La lắc đầu, giải thích: “Theo như thói quen xưng hô của người Nga, ‘Misha’ rõ ràng không phải là tên thật của người đó, chỉ là tên gọi thân mật giữa những người bạn hoặc người thân với nhau, bởi vậy tôi cũng không thể phán đoán người này rút cuộc là ai, nhưng từ nội dung của hai bức thư có thể thấy, cái người Misha này chắc là bạn học của Menshikov, hai người họ đã cùng nhau phát hiện ra kệ tranh ngọc tại cung điện Mùa Đông…”
“Hay là ta xem luôn bức thư thứ năm đi!” - Chưa kịp đợi giáo sư La nói xong, Lương Viện đã hấp tấp mở bức thư thứ năm ra.

6

Bức thứ năm, viết năm 1951, thư của Suslov (Mikhail Andreyevich Suslov), nhà lãnh đạo văn hóa chủ quản và tư tưởng Liên Xô viết cho Alekseev.

Đồng chí Mikhail Andreyevich Suslov thân mến:
Hôm trước, hai học sinh của ông đã tường thuật lại với tôi về thành quả nghiên cứu gần đây của họ. Mong ông lượng thứ, vì kiến thức về phương diện lịch sử, tôi biết rất ít, đặc biệt là về văn minh Đông Phương xa xôi, tôi càng chưa từng chuyên sâu nghiên cứu. Nhưng gần đây, Viễn Đông đang có những biến động hoàn toàn khác biệt, sự biến động này khiến chúng tôi cảm thấy vui mừng. Vì sự biến động này cũng chính là yêu cầu mà ông và học sinh của ông đề xuất – tới Trung Quốc để khảo sát thực địa.
Tuy tôi hoàn toàn có thể hiểu được tâm trạng nóng ruột muốn đến Trung Quốc để khảo sát của ông và học sinh, cũng có thể hiểu giá trị nghiên cứu khổng lồ bao hàm trong đó, nhưng, tôi rất lấy làm tiếc khi phải thông báo với ông rằng, đề nghị của ông và học sinh, hiện tại, ít nhất là thời gian tới vẫn không thể thực hiện được. Đây cũng là đáp án cuối cùng của trọng tâm vấn đề, tôi vô cùng xin lỗi!
Ông biết đấy, hiện tại Viễn Đông đang tiến hành một cuộc chiến tranh đáng sợ, kẻ thù của chúng ta và kẻ thù của chính quyền mới ở Trung Quốc đều đang cật lực ngăn chặn tiến trình giải phóng và kiến thiết Trung Quốc - nơi mà ông định đến. Ở đó cướp bóc hoành hành, điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt, càng có khả năng gặp phải sự phá hoại của thế lực đối địch nước ngoài. Bởi vậy, vì chúng tôi đã từng có trải nghiệm qua những kinh nghiệm về sự thận trọng, nên quyết định đình chỉ hoạt động khảo cổ của ông, dù chỉ là tạm thời, để đợi tới khi tình hình ổn định, điều kiện chín muồi, chúng tôi sẽ cân nhắc lại đề nghị của ông.
Chúc ông sớm phục hồi sức khỏe.
Mikhail Andreyevich Suslov

“Từ bức thư này có thể nhìn ra vấn đề, Alekseev và Menshikov cùng những người khác, vì muốn tiến thêm một bước bóc gỡ bí mật của kệ tranh ngọc, nên đã đề xuất với chính quyền việc muốn tới Trung Quốc để khảo sát thực địa. Từ đó, tôi suy đoán nghiên cứu của họ nhất định đã có rất nhiều tiến triển, bởi vậy mới nóng lòng tới Trung Quốc khảo sát đến thế. Và cũng từ bức thư này ta có thể nhận ra, chính quyền đã không đồng ý với yêu cầu của họ, ít nhất là tới năm 1951 cũng vẫn chưa đồng ý”. Đường Phong đọc xong thư lên tiếng trước.
Triệu Vĩnh tiếp lời: “Trong thư nhắc tới ‘Viễn Đông đang tiến hành một chiến tranh đáng sợ’, chắc là ám chỉ chiến tranh Triều Tiên, điều này phù hợp với niên đại trong thư, hơn nữa dải tây bắc lúc đó quả thực không ổn định, cân nhắc tới nhân tố an toàn, bởi vậy chính quyền Liên Xô đã cự tuyệt đề nghị của Alekseev và mọi người”.
“Khà khà, chính quyền cự tuyệt đề nghị của Alekseev và mọi người, tôi thấy không phải vì nhân tố an toàn gì cả, mà chủ yếu là do nghiên cứu của Alekseev và Menshikov vẫn chưa đánh động được những nhân vật lớn ở tầng cấp cao kia, vì trong tiền đề không đủ chứng cứ thì họ vốn sẽ không tin tưởng đề nghị của Alekseev và Menshikov, mà chỉ coi đó là sự hoang tưởng của những phần tử tri thức. Nhưng nếu như có đủ chứng cứ, để chính quyền tin tưởng, thì bắt buộc phải đi khảo sát thực địa, bởi vậy sự việc mới gác lại tại đây.” - Giáo sư La Trung Bình phát biểu quan điểm của mình.
“Vậy sau đó, rút cuộc Alekseev có tới Trung Quốc không nhỉ?” - Lương Viện hỏi giáo sư La.
Giáo sư La lắc đầu, thở dài: “Rất không may, không có sau này nữa, bởi vì năm đó Alekseev đã qua đời trong bệnh viện”.
“Á? Vậy sao?” - Lương Viện giật mình.
Sau một hồi trầm ngâm, giáo sư La phá vỡ sự im lặng: “Chúng ta tiếp tục đọc bức thư thứ sáu đi, bức thư thứ sáu, cũng là bức quái dị nhất, thần bí nhất, dài nhất trong bảy bức thư.
7

Bức thư thứ sáu viết năm 1958, nhưng họ tên của cả người viết và người nhận thư đều bị che đi rồi.

(Phần xưng hô bị bôi đen):
Hôm trước, khi tới tham quan cung điện Mùa Đông và viện nghiên cứu Đông Phương học học viện khoa học Liên Xô tại Leningrad, em thấy rất nhiều văn vật cổ có xuất xứ từ khu vực tây bắc nước ta. Những văn vật này, phần lớn là thuộc thời đại đế quốc Nga, được những nhà thám hiểm người Nga khai quật và đánh cắp mang về, trong đó, có kinh thư thời nhà Đường lấy ra từ Động Tàng Kinh Đôn Hoàng, cũng có cả văn hiến Tây Hạ lấy ra từ Hắc Thành. Những văn vật quý báu này, trước đây rất ít người trong nước biết tới, nên em có thể được coi là người Trung Quốc đầu tiên đã nhìn thấy những văn vật quý báu này. Đây không biết nên gọi là hạnh phúc? hay là bất hạnh nữa? Nếu suy nghĩ sâu sa thì đây là hạnh phúc của cá nhân em, nhưng lại là bất hạnh lớn của quốc gia, vì báu vật của Trung Quốc lưu lạc tha hương tới đất nước khác, người trong nước lại không hề hay biết, thì đúng là nỗi bất hạnh lớn của đất nước rồi!
Đặc biệt là những văn vật Tây Hạ quý báu đó, trước đây, đến cả người được mang danh là “học giả” như em cũng đều chưa từng nghe thấy, nên thế nhân càng không biết được trên đời này hóa ra còn có những báu vật như vậy. Tại cung điện Mùa Đông, các nhà nghiên cứu Liên Xô còn đặc biệt bày ra cho em xem một báu vật Tây Hạ, mà theo như họ nói thì báu vật này tên là “kệ tranh ngọc nổi gân cổ chạm châu báu”. Nhà nghiên cứu Liên Xô còn kể cho em nghe một số thành quả nghiên cứu của họ về kệ tranh ngọc. Tuy em không hoàn toàn hiểu hết, nhưng có thể nhận ra là Liên Xô vô cùng coi trọng kệ tranh ngọc Tây Hạ đó.
(Một dòng phía dưới bị bôi đen)

Hôm nay em tới Mátxcơva, khi quan chức cao cấp của phía Liên Xô đón tiếp em, họ đã chính thức đề xuất mong rằng họ có thể cử một đoàn thám hiểm tới khảo sát khu vực tây bắc Trung Quốc. Em cảm thấy việc này không hề đơn giản, mà rất có khả năng là liên quan tới kệ tranh ngọc Tây Hạ đó. Nhưng khi em hỏi thăm về nội dung khảo sát cụ thể thì bất luận là quan chức hay là các nhà nghiên cứu của Liên Xô đều úp úp mở mở, có gì đó khó nói phải giấu giếm…
(Hai dòng sau đó bị bôi đen)
(Dòng đầu bị bôi đen)
Theo ngu ý của em, để phía Liên Xô đơn độc thám hiểm là không thể, chỉ có tổ chức đội thám hiểm liên hợp, may ra việc này còn có thể…
(Mười dòng sau đó gần như bị xóa toàn bộ, không thể đọc được)

“Sao bức thư này lại loạn lên thế nhỉ? Đằng sau vẫn chưa viết xong, hơn nữa người gửi thư, người nhận thư cũng không biết là ai?” - Lương Viện đọc xong bức thư liền hỏi ngay.
Giáo sư La nói: “Bởi vậy ông mới gọi bức thư này là thư của nhân vật bí ẩn. Trong thư không chỉ có những chỗ đề cập tới thân phận của người nhận thư đều đã bị bôi đen, mà còn cả rất nhiều nội dung khác cũng đã bị bôi đen”.
“Ông gọi người nhận thư là nhân vật bí ẩn, vậy người gửi thư thì sao? Hình như ông biết người đó là ai?” - Đường Phong hỏi.
Giáo sư La lắc đầu, đáp: “Đường Phong, tôi không thể khẳng định người gửi thư đó là ai, nhưng từ giọng điệu và tường thuật trong thư mà phán đoán, người gửi thư và người nhận thư chắc là người Trung Quốc. Bức thư này khác với những bức kia, và người gửi thư này theo như tôi phán đoán, có lẽ là một học giả rất quan trọng của nước ta thời đó, địa vị của người này đồng thời cũng rất cao, nếu không thì phía Liên Xô sao lại đề xuất tới việc cử đoàn thám hiểm liên hợp với ông ta làm gì?”
“Ừm, giáo sư La nói có lý. Đây quả thực là một bức thư kỳ lạ, mà bức thư này vốn được viết bằng tiếng Trung sao?” Đường Phong lại hỏi giáo sư La.
“Không! Bức thư này không phải viết bằng tiếng Trung, mà cũng được viết bằng tiếng Nga”.
“Một học giả nổi tiếng của Trung Quốc mà lại dùng tiếng Nga viết thư cho một người Trung Quốc? Sao kỳ lạ vậy?” - Đường Phong không khỏi kinh ngạc, nhân vật bí ẩn này rút cuộc là ai?
“Điều này ít nhất cũng cho thấy nhân vật nhận thư bí ẩn này cũng tinh thông tiếng Nga, chỉ có điều chúng ta không biết người nhận thư này là ai…”
Triệu Vĩnh ngắt lời giáo sư La: “Điều mà tôi quan tâm nhất là bức thư này đã bị ai bôi đen? Có xuất hiện điều gì kỳ lạ không? Là người gửi thư tự bôi đen hay người nhận thư bí ẩn bôi đen hoặc là người nào khác? Sao bức thư này lại rơi vào tay KGB?”.
“Có lẽ bức thư này vốn không gửi đi, hoặc là người bôi đen bức thư chính là KGB” - Đường Phong phán đoán.
Triệu Vĩnh phản bác: “Đây đều là những hồ sơ tuyệt mật của KGB. Nếu đã liệt vào hồ sơ tuyệt mật như vậy, thì KGB không hà cớ gì phải bôi đen vài chỗ trong bức thư như vậy, nếu như thật sự không yên tâm, thì họ chắc chắn sẽ chọn cách tiêu hủy nó đi rồi”.
Đường Phong không còn lời nào để nói lại, lúc này, Lương Viện lại nóng vội hỏi: “Các anh đừng có tranh luận nữa, sau đó thì sao?”
“Sau đó? Sau đó thì có đội thám hiểm liên hợp giống như cơn ác mộng đó!” - Giáo sư La rầu rĩ nói.
trangceline2008 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 06-03-2012, 04:57 PM   #24
trangceline2008
Mọt sách
 
Tham gia ngày: Oct 2010
Bài gởi: 203
Xin cảm ơn: 7
Được cảm ơn 904 lần trong 168 bài
Default

8

Bức thứ bảy, thư của chủ tịch KGB Shelepin (Alexander Nikolayevich Shelepin) gửi cho Sakharov (Victor Mikhailovich Sakharov), bộ trưởng đầu tiên của KGB (Bức thư này không có thời gian cụ thể)

Đồng chí Mikhailovich Sakharov:
Sự thất bại của hành động “Hắc Thành” đã khiến chúng ta tổn thất rất nhiều đồng chí ưu tú, vì vậy tôi rất tiếc khi phải thông báo với anh rằng, chúng ta phải lập tức dừng ngay hành động lần này lại.
Người đảng viên cộng sản chúng ta đều không tin vào thần thánh, càng không thể tin tưởng vào bất cứ truyền thuyết thần ma quỷ quái nào, nhưng lần này trong sa mạc tại tây bắc Trung Quốc, những điều ly kỳ đáng sợ mà đội thám hiểm gặp phải đã khiến tôi không thể giải thích được bằng bất cứ cách nào; cũng có thể là đã có sự phá hoại của thế lực thù địch nước ngoài, nhưng ở phương diện này, chúng ta cũng không có chứng cứ xác thực. Vật báu ẩn giấu bí mật của vương triều Tây Hạ đến từ Trung Quốc đó, tôi nghĩ chỉ có thể để lại cho thế hệ sau thám hiểm nghiên cứu mà thôi, còn tôi và anh cùng thế hệ chúng ta khả năng không còn cơ hội để bóc trần những bí mật trong đó nữa.
Dưới đây là mệnh lệnh của tôi:
1. Lập tức chấm dứt hành động “Hắc Thành”, điều toàn bộ thành viên của chúng ta về, bao gồm các nhà khoa học của các chuyên ngành, nhân viên đặc công, quân nhân. Đồng thời, việc điều tra liên quan tới nguyên nhân thất bại của lần hành động này, cùng kế hoạch tìm kiếm thành viên mất tích cũng dừng lại.
2. Toàn bộ thành viên tham gia hành động lần này, bao gồm các nhà khoa học, nhân viên đặc công, quân nhân, bất luận họ biết được bao nhiêu vấn đề có liên quan đến hành động lần này, nhất loạt yêu cầu họ phải kí cam kết bảo mật, cam kết vĩnh viễn không được tiết lộ bất cứ bí mật nào liên quan tới hành động “Hắc Thành”, nếu không họ sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc nhất.
3. Với mấy vị chuyên gia biết rõ nhất về sự tình cung điện Mùa Đông và viện nghiên cứu Đông Phương của Học viện khoa học, anh hãy sắp xếp một thời gian thích hợp, tôi muốn gặp mặt họ nói chuyện.
4. Tiêu hủy toàn bộ văn kiện liên quan tới hành động “Hắc Thành”, việc này phải do anh đích thân thực thi.
5. Còn về vật báu đến từ vương triều Tây Hạ Trung Quốc, cũng do anh tìm kiếm nơi nào an toàn nhất để cất giữ. Ghi nhớ là: cất giữ vĩnh viễn! Nếu không được tổng bộ cho phép, thì tuyệt đối không được để vật này lộ diện, nếu như một ngày nào đó vật này xuất hiện trở lại, nhất định sẽ dẫn tới một sự hỗn loạn đáng sợ mới, điều đó tôi không hy vọng nhìn thấy.
6. Với những thành viên may mắn sống sót, cố gắng hết sức cấp cứu, còn về sắp xếp sau này cho họ, tôi sẽ cân nhắc tiếp.
Như vậy đi, tổng cộng là 6 điểm, mong anh nhớ kĩ và nghiêm túc thi hành. Bởi cấp độ bảo mật của hành động “Hắc Thành” rất cao, sẽ không tiếp tục phát tài liệu liên quan, thư này đọc xong, lập tức phải tiêu hủy.
Shelepin

“Từ bức thư của Shelepin, chúng ta có thể biết được rằng KGB đã gọi cuộc thám hiểm lần đó là hành động “Hắc Thành”, hơn nữa trong thư ông ta cũng đã nói rất rõ, hành động cuối cùng đã thất bại, cũng có nghĩa là họ đã không tìm ra được bí mật chôn giấu trong kệ tranh ngọc” - giáo sư La phân tích.
Đường Phong tiếp lời: “Như vậy, đối chiếu với tình hình mà Lương lão tiên sinh nói, Lương Vân Kiệt là phiên dịch tiếng Nga của đội thám hiểm, cũng tham gia vào chuyến thám hiểm đó, kết quả đội thám hiểm đã gặp nạn tại sa mạc Badain Jaran, gần như toàn quân tan tác. Lương lão tiên sinh là người duy nhất của phía Trung Quốc may mắn sống sót”.
Giáo sư La Trung Bình gật gù: “Đúng vậy, tôi cũng là người nắm được tình hình của chuyến thám hiểm đó, lần đó xém chút nữa tôi cũng được chọn để tham gia vào đoàn thám hiểm. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ, khi danh sách của đoàn thám hiểm được công bố, tôi đã buồn bã đến nhường nào, còn mấy thanh niên được chọn mà tôi quen thì đã hưng phấn vô cùng, nhưng, sau đó…” - Giáo sư La gần như chìm trong hồi ức, mãi một lúc sau, ông mới tiếp tục kể: “Sau khi đoàn thám hiểm gặp nạn, tôi ngày càng hứng thú với lịch sử Tây Hạ. Tôi càng quyết tâm hoàn thành cho được tâm nguyện vẫn còn dang dở của đoàn thám hiểm. Bởi vậy, bao năm qua tôi đã nhiều lần thâm nhập vào sa mạc Badain Jaran, Hạ Lan Sơn, Sa mạc Tengger, vùng phía Tây Xuyên và nhiều nơi khác để khảo sát, tìm kiếm văn minh Tây Hạ đã mất tích”.
“Bao nhiêu năm kiên trì như vậy, ngài đã trở thành đại gia về văn hóa lịch sử Tây Hạ rồi” - Đường Phong nói.
Giáo sư La hất hất tay: “Bởi vậy tôi thường nghĩ, năm đó bị rớt khỏi đoàn thám hiểm, là sự may mắn của tôi? Hay là không may? Câu hỏi này tới tận giờ tôi vẫn chưa trả lời được”.
“Nhưng tôi vẫn chưa hiểu là trong thư, Shelepin đã ra lệnh tiêu hủy tất cả những văn kiện liên quan, vậy tại sao hôm nay chúng ta vẫn có thể đọc được bảy bức thư tuyệt mật này? Còn cả mệnh lệnh cất giữ vĩnh viễn báu vật Tây Hạ của ông ấy, báu vật đó chắc là kệ tranh ngọc. Nếu như kệ tranh ngọc bị cất giấu vĩnh viễn, thì tại sao giờ đây nó lại lộ diện?” Câu hỏi của Lương Viện lại khiến mọi người chìm trong suy tư.
“Văn kiện có khả năng lọt ra ngoài ra từ nội bộ KGB. Sau khi Liên Xô tan rã, KGB bị giải tán, rất nhiều văn kiện vốn là tài liệu cơ mật của KGB bị thất lạc. Còn về việc kệ tranh ngọc tại sao lại xuất hiện, tôi không biết, cũng có khả năng giống như đống tài liệu này bị thất thoát ra từ KGB vậy, cũng có khả năng là từ con đường khác nào đó” - Hàn Giang vốn trầm tư từ đầu tới giờ bỗng phát biểu suy đoán của mình.
“Ừm, tôi hoàn toàn đồng ý với phán đoán của đội trưởng, nhưng, còn có một nghi vấn lớn nhất, đó là từ nội dung của bảy bức thư này có thể nhận thấy, chắc chắn là các học giả Liên Xô thông qua việc nghiên cứu kệ tranh ngọc đã thu được những manh mối rất quan trọng, bởi vậy mới có thể thuyết phục được các lãnh đạo cấp cao đồng ý cho họ tới Trung Quốc khảo sát. Vậy rút cuộc họ đã phát hiện ra điều gì trên kệ tranh ngọc?” - Đường Phong nói ra nghi vấn trọng tâm.
“Không sai, đúng như Đường Phong nói, nhất định mấy vị học giả Liên Xô đó đã phát hiện ra điều gì trên kệ tranh ngọc, hiện tại kệ tranh ngọc này đang ở trong tay chúng ta, chúng ta cũng phải nhanh chóng tìm hiểu kệ tranh ngọc này để hóa giải bí mật bao trùm lên nó, dĩ nhiên, phải trông cậy vào những nghiên cứu của giáo sư La rồi”.
Mọi người cùng đổ dồn ánh mắt hy vọng về phía giáo sư La. Giáo sư La cười khan hai tiếng, nói: “Các bạn đừng nhìn tôi như thế, kệ tranh ngọc trải qua bao nhiêu năm như vậy, những kí hiệu trên bề mặt... ồ, chính là những văn tự Tây Hạ mà Đường Phong nói, đã loang lổ không nhìn rõ nữa rồi. Hiện giờ tôi đang điều chế một loại chất lỏng đặc biệt, các bạn muốn nhìn rõ những văn tự Tây Hạ trên kệ tranh ngọc này thì hãy chờ thêm một thời gian nữa; còn sau khi xử lý xong xuôi, có thể giải mã được những văn tự Tây Hạ để tìm ra bí mật của kệ tranh ngọc này hay không, thì còn phải xem vận may của chúng ta nữa”.
Đường Phong nghe xong những lời của giáo sư La liền quay lại nhìn nhìn Hàn Giang, trong lòng hai người không hẹn mà gặp cùng nảy sinh một suy nghĩ kỳ lạ: ta đã tiếp cận được chân tướng của bí mật, hay là đang càng lúc càng xa rời bí mật đó đây?
trangceline2008 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 06-03-2012, 05:11 PM   #25
khanhproq3
Thành viên mới
 
Tham gia ngày: Jun 2011
Bài gởi: 26
Xin cảm ơn: 3
Được cảm ơn 12 lần trong 8 bài
Default

truyện đủ không nhỉ, đọc giữa chừng mà ... thì @@..................................
khanhproq3 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 07-03-2012, 08:53 AM   #26
trangceline2008
Mọt sách
 
Tham gia ngày: Oct 2010
Bài gởi: 203
Xin cảm ơn: 7
Được cảm ơn 904 lần trong 168 bài
Default

CHƯƠNG 6
Tứ Bình


1

Một tuần sau, Đường Phong, Lương Viện, Hàn Giang, Triệu Vĩnh và giáo sư La lại tập hợp trong mật thất của ngôi nhà nhỏ. Tấm kệ tranh ngọc nổi gân cổ chạm châu báu Tây Hạ đang nằm ngay ngắn trên chiếc bàn trước mặt họ… Giáo sư La Trung Bình sau một tuần đóng cửa nghiên cứu, đã cơ bản giải mã được những kí hiệu bí ẩn trên bề mặt kệ tranh ngọc.
Giáo sư La phát cho mọi người bốn bản in thác bản của bề mặt kệ tranh ngọc, ông giới thiệu: “Từ bảy văn kiện tuyệt mật đó, chúng ta đã biết được năm đó Ivanovich Ivanov đã phát hiện ra một số kí hiệu bí ẩn trên bề mặt kệ tranh ngọc. Ivanovich Ivanov, Alekseev và Menshikov đều cho rằng, những kí hiệu bí ẩn này chính là văn tự Tây Hạ đã biến mất nhiều năm qua, và họ đã tiến hành một số công việc dịch nghĩa. Nhưng kệ tranh ngọc mà Đường Phong mang về này, do năm tháng bào mòn, cộng thêm điều kiện bảo tồn sau này không tốt, nên những kí hiệu bí ẩn trên bề mặt đó giờ đều bị cáu bẩn, mờ nét, bản in thác bản mà mọi người đang nhìn thấy là do tôi dùng một loại chất lỏng đặc biệt để lau rửa, kệ tranh ngọc sau khi được rửa sạch sẽ thì mới tiến hành lấy thác bản, nên bản in thác bản giờ cũng khá là rõ ràng rồi. Văn tự Tây Hạ là một loại văn tự chết, hiện nay ở nước ta, thậm chí là trên toàn thế giới, số người có thể đọc hiểu được văn tự Tây Hạ không vượt quá 20 người. Tôi tuy bất tài, nhưng đã bao năm học hành nghiên cứu văn tự Tây Hạ, bởi vậy cũng may mắn nhận biết được một vài văn tự Tây Hạ” - giáo sư La nói.
Lương Viện hiếu kỳ ngắt lời giáo sư La: “Giáo sư đừng giảng bài cho chúng cháu nữa, nếu giáo sư có thể đọc hiểu thì mau mau nói cho mọi người biết, những văn tự Tây Hạ trên đó nghĩa là gì đi ạ?”
Giáo sư La cười nói: “Viện Viện, cháu đừng nóng vội, nếu muốn phá giải bí mật ẩn giấu trong kệ tranh ngọc Tây Hạ, mọi người ở đây vẫn bắt buộc phải nghe ông lải nhải. Không nói để các bạn đọc hiểu được văn tự Tây Hạ, thì ít nhất cũng phải để các bạn đại khái hiểu được văn hóa lịch sử Tây Hạ; có như vậy các bạn mới có thể hiểu rõ được giá trị và văn hóa ẩn chứa bên trong kệ tranh ngọc này, bởi vậy ông phải giảng bài cho mọi người trước đã”.
“Giảng bài? Cháu vừa mới tốt nghiệp từ Mỹ về, đến đây lại phải lên lớp sao?” - Lương Viện tỏ ra nhụt chí.
Hàn Giang nghiêm mặt nói với mọi người: “Trên phương diện học thuật, giáo sư La là chuyên gia, chúng ta đều là học sinh, hơn nữa còn là học sinh tiểu học, bởi vậy bắt buộc phải nghe giáo sư La giảng bài cho chúng ta trước đã. Còn riêng Đường Phong, về phương diện này dĩ nhiên không phải là học sinh tiểu học, nhưng tôi có yêu cầu cao hơn với anh, nên anh lại càng phải chăm chú nghe giảng hơn chúng tôi, chăm học hơn chúng tôi?”
Những lời Hàn Giang nói khiến Đường Phong cảm thấy áp lực tăng lên gấp đôi. Anh bắt đầu hiểu ra tác dụng và giá trị của mình trong đội ngũ này, nhưng lúc này anh cũng không thể biết mình có khả năng đáp ứng được yêu cầu của Hàn Giang hay không, đặc biệt là việc đọc hiểu văn tự Tây Hạ đã thất truyền.

2

Giáo sư La bật máy chiếu lên, trên màn hình máy chiếu xuất hiện một ngọn núi tuyết nguy nga, dưới núi tuyết là rừng cây um tùm hun hút, đang có một đám người quấn trên người những tấm da thú đang đuổi bắt dã thú, hoàn toàn là cảnh tượng của một xã hội nguyên thủy. Tiếp đó, giáo sư La bắt đầu bài giảng của ông: “Người Đảng Hạng kiến lập vương triều Tây Hạ, từng là một chi của người Khương cổ. Vào thời viễn cổ, người Khương cổ sinh sống tại đông bắc cao nguyên Thanh Tạng, tại đây họ đã sáng tạo ra văn hóa Tây Khương. Người Đảng Hạng chính là một chi trong bộ lạc Tây Khương. Vào khoảng thế kỷ thứ tư, người Đảng Hạng bắt đầu bước lên vũ đài lịch sử Trung Quốc. Kể từ đó, người Đảng Hạng đã không ngừng nghỉ tiến những bước tiến di chuyển của họ. Vào thời kỳ cuối Nam Bắc triều, người Đảng Hạng bắt đầu hoạt động tại thượng lưu sông Hoàng Hà và khu vực bắc Tứ Xuyên, cũng chính là vùng đông nam tỉnh Thanh Hải và dải Tùng Phan, Hắc Thủy, Bắc Xuyên, Mậu Huyện của Tứ Xuyên. Trong “Tùy thư - Đảng Hạng truyền” có ghi chép lại: Đảng Hạng lấy thị tộc để phân chia bộ lạc, họ lớn thì hơn năm vạn người, họ nhỏ thì hơn nghìn người. “Tục thượng vũ lực, vô pháp lệnh, các vi sinh nghiệp, hữu chiến trận tắc tương đồn tụ, vô dao phú, bất tương vãng lai. Mục dưỡng ngưu, dương, trư dĩ cộng thực, bất tri giá sắc”. Người Đảng Hạng lúc đó chủ yếu sống bằng chăn nuôi gia súc, săn bắt, vẫn còn chưa biết sản xuất nông nghiệp, thuộc thời kỳ cuối của xã hội nguyên thủy. Sau này, Đảng Hạng Khương dần dần phát triển thành 8 bộ lạc lớn là: thị tộc Tế Phong, thị tộc Phí Thính, thị tộc Vãng Lợi, thị tộc Pha Siêu, thị tộc Dã Từ, thị tộc Phòng Đương, thị tộc Mễ Cầm, thị tộc Thác Bạt, trong đó thực lực của bộ lạc Thác Bạt là mạnh nhất”.
“Vậy thì, cái từ ‘Đảng Hạng’ này từ đâu mà có vậy?” - Lương Viện lại tò mò hỏi.
Giáo sư La giải thích: “Cái tên ‘Đảng Hạng’ này là kết quả của dịch âm sang tiếng Hán, khả năng lớn là dân tộc Hán cổ đã vay mượn cách gọi Đảng Hạng của một vài dân tộc thiểu số khác ở Tây Bắc, ví dụ như người Mông Cổ gọi người Đảng Hạng là ‘Đường Cổ Đặc’ hoặc ‘Đường Ngột Thích”. Hầu hết các điển tịch tiếng Hán cũng tiếp tục dùng cách xưng hô này. Trong lúc đó, người Đảng Hạng lại tự gọi mình là ‘Miến Dược’ hoặc ‘Nhĩ Dược’, cách xưng hô này gần giống với cách gọi người Đảng Hạng của người Tạng. Trong văn hiến của dân tộc Tạng cổ, người Tạng gọi người Đảng Hạng trong thời kỳ Thổ Phiên di cư tới vùng Đông Bắc cao nguyên Thanh Tạng là Nhĩ Dược”.
“Cũng có nghĩa là người Đảng Hạng thời kỳ này đã từ phía tây Tứ Xuyên di chuyển tới vành đai hồ Thanh Hải?” - Đường Phong truy hỏi.
“Đúng vậy, nhưng thời kỳ này, trên cao nguyên Thanh Tạng, một vương triều khác là Thổ Phiên cũng phát triển, mở rộng ra bên ngoài. Để trốn tránh sự xâm lược và nô dịch của Thổ Phiên, các bộ lạc Đảng Hạng đã lần lượt di chuyển về một vương triều mới nổi lên – Đại Đường. Triều Đường đã tiếp nạp họ, người Đảng Hạng liền di chuyển tới khu vực hành lang Hà Tây và khu vực Cam Nam. Sau loạn An Sử[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ] người Đảng Hạng lại di chuyển tới dải Thiểm Bắc, Hà Sáo, và từ đó định cư lại tại đây”.
Đường Phong tiếp lời giáo sư La: “Phần lịch sử sau đó tôi đã biết rồi”.
“Vậy thì sau đây sẽ tới lượt cậu nói nhé” - Giáo sư La đang muốn thử Đường Phong.
Đường Phong tiếp tục phần giới thiệu của giáo sư La: “Sau khi người Đảng Hạng định cư tại khu vực Thiểm Bắc, Hà Sáo, họ đã phát triển rất nhanh chóng và lớn mạnh. Những năm cuối thời Đường, thiên hạ đại loạn, từng nhóm người lớn mạnh khởi nghĩa, lãnh tụ kiệt xuất Thác Bạt Tư Cung của người Đảng Hạng đã dẫn dắt người Đảng Hạng không ngừng mở rộng thực lực của bộ tộc, và đã lập đại công trong việc trấn áp khởi nghĩa Hoàng Sào, được triều Đường phong làm Định Nan quân tiết độ sứ, phong tước Hạ quốc công và ban tặng họ “Nguy Danh”. Bởi vậy trong sử sách cũng gọi hoàng tộc Tây Hạ là họ Ngôi Danh. Kể từ đó, người Đảng Hạng từng bước chiếm hữu vùng đất của 5 châu gồm: Ngân Châu, Hạ Châu, Hựu Châu, Tuy Châu, Tịnh Châu, trở thành chư hầu một phương. Sau khi triều Tống được thiết lập, triều đình thực thi chính sách bóc lột, thời Tống Thái Tông, hậu duệ của Thác Bạt Tư Cung là Ngôi Danh Kế Bổng tiếp tục kế nhiệm chức Định Nan quân tiết độ sứ. Không lâu sau, nội bộ quý tộc Đảng Hạng phát sinh đấu đá tranh giành quyền lực, triều Tống nhân cơ hội dụ dỗ Ngôi Danh Kế Bổng dẫn dắt tộc người đầu hàng, thuận theo triều Tống và dâng tặng vùng đất 5 châu: Ngân Châu, Hạ Châu, Hựu Châu, Tuy Châu, Tịnh Châu. Kể từ đó, nội bộ dân tộc Đảng Hạng phân tách và đứng trước nguy cơ suy vong. Lúc này, trong những người Đảng Hạng không muốn thuận theo triều Tống, có một người đứng lên kêu gọi, dẫn lĩnh tộc người tháo chạy tới Địa Cân Trạch, cách đông bắc Hạ Châu 300 lý (khoảng 150km), tự xưng vương, chống lại triều Tống. Người này chính là người đặt nền móng cho vương triều Tây Hạ - Thác Bạt Kế Thiên.
Hơn 20 năm sau đó, người Đảng Hạ dưới sự lãnh đạo của Thác Bạt Kế Thiên, đã mở mang bờ cõi, chinh phạt bốn bề, mở rộng lãnh thổ, khai phá vùng sa mạc rộng lớn, không chỉ lấy lại lãnh thổ 5 châu đã mất, mà còn công chiếm trấn địa trọng điểm của tây bắc bấy giờ là Linh Châu. Đến thời kỳ con trai của Thác Bạt Kế Thiên, là Thác Bạt Đức Minh cầm quyền, người Đảng Hạng một mặt xoay sở với hai cường quốc Tống, Liêu, một mặt chinh chiến với Thổ Phiên, Hồi Cốt, mở rộng về hướng tây, khống chế huyết mạch trên con đường tơ lụa – vành đai Hà Tây, từng bước thiết lập bờ cõi của nước Tây Hạ sau này, đồng thời xây dựng đô thành của vương triều Tây Hạ dưới chân núi Hạ Lan, đặt tên là Hưng Khánh Phủ.
Năm 1038, con trai của Thác Bạt Đức Minh là Nguyên Hạo, trải qua một thời gian dài chuẩn bị, từ bỏ họ tên mà hoàng đế nhà Tống ban tặng, tự xưng là họ Ngôi Danh, chính thức xưng đế, kiến lập nên vương triều của người Đảng Hạng, lấy quốc hiệu Đại Hạ, người đời sau thường gọi vương triều này là “Tây Hạ”. Vào thời kỳ huy hoàng nhất của vương triều Tây Hạ, Hoàng Hà được coi là ranh giới phía đông, phía tây kéo dài mãi đến Tây vực, khống chế con đường tơ lụa, phía nam đối đầu với Túc Quan, phía bắc dựa vào đại sa mạc, diện tích hơn cả ngàn dặm, bao gồm Ninh Hạ, toàn bộ Cam Túc và Thiểm Tây, Nội Mông Cổ, Thanh Hải, một phần địa phận của Tân Cương ngày nay. Nguyên Hạo sau khi xưng đế, đã xây dựng bộ điển chương chế độ hoàn chỉnh, còn sáng tạo ra một hệ thống cả văn tự Tây Hạ độc đáo nữa”.

3

Giáo sư La nghe Đường Phong tường thuật xong, mỉm cười nói: “Đường Phong, lịch sử Tây Hạ mà cậu vừa nói rất chính xác, vì cậu đã nhắc đến Nguyên Hạo sáng lập ra văn tự Tây Hạ, vậy tiếp theo tôi sẽ nói về văn tự Tây Hạ đã thất truyền”. Giáo sư La bấm nút điều khiển, một số ký tự kỳ lạ liền hiện ra trên màn hình máy chiếu, rồi ông tiếp giảng giải với mọi người: “Những ký tự đặc biệt trên màn hình máy chiếu này chính là văn tự Tây Hạ. Trước khi Nguyên Hạo xưng đế, dân tộc Đảng Hạng vốn không có văn tự riêng. Những năm đầu, khi người Đảng Hạng còn sống du mục trên vùng cao nguyên Thanh Tạng, do ngôn ngữ Đảng Hạng gần gũi với Tạng ngữ, nên họ đã vay mượn chữ cái của Tạng văn để phiên âm ngôn ngữ của mình. Sự sáng tạo ra chữ viết Tây Hạ đã đánh dấu cho một bước phát triển mới, lên một mình độ cao hơn của văn minh dân tộc Đảng Hạng. “Tống sử” ghi: “Nguyên Hạo tự chế phiên thư, mệnh Dã Lợi Nhậm Vinh diễn dịch chi, thành thập lưỡng quyển, tự hình thể phương chỉnh loại bát phân, nhi họa pha trùng phục. Giáo quốc nhân kỷ sự dụng phồn thư, nhi dịch “Hiếu kinh”, “Nhĩ Nhã”, “Tứ ngôn tạp tự” vi phồn ngữ”. Thẩm Khoát người Tống thì viết trong “Mộng khê bút đàm”: “Nguyên Hạo quả bản, kỳ đồ ngẫu khuất tiên sáng tạo phiên thư, độc cục nhất lầu thượng, lũy niên phương thành, chí thị hiến chi”. Trong hai đoạn văn ghi chép này, đã nói rằng, trước khi Nguyên Hạo kiến lập vương triều Tây Hạ, đã ra lệnh cho đại thần thuộc hạ Dã Lợi Nhậm Vinh sáng tạo ra văn tự Tây Hạ, lệnh cho nhân dân trong trước sử dụng loại chữ mới này. Nguyên Hạo còn phiên dịch rất nhiều điển tịch Hán văn thành chữ Tây Hạ. Thực ra, theo ý kiến của tôi, văn tự Tây Hạ vốn không phải do cá nhân nào sáng tạo ra, mà là được từng bước hình thành trong dân gian, cuối cùng được Dã Lợi Nhậm Vinh sưu tầm thu thập chỉnh sửa mà thành”. Giáo sư La giới thiệu liền một mạch sự ra đời và hoàn thiện của văn tự Tây Hạ.
Lương Viện nhìn chằm chằm vào những văn tự Tây Hạ kỳ quái trên màn hình máy chiếu, đột nhiên hỏi: “Giáo sư, sao cháu thấy mấy văn tự Tây Hạ này hơi giống tiếng Hán nhỉ, nhưng cháu chẳng hiểu được chữ nào cả”.
“Khà khà! Viện Viện, cháu quan sát khá lắm, văn tự Tây Hạ chính là Hán tự vay mượn, biến đổi mà thành. Các bạn xem, văn tự Tây Hạ, về kết cấu rất giống Hán tự. Cũng giống như chữ ô vuông, do nét chấm, ngang, sổ, mác, hất, quai, móc câu… tạo thành, đến cả thể chữ cũng giống như Hán tự, có 5 loại thể chữ: Khải, Hành, Thảo, Triện, Lệ. Những người lần đầu nhìn thấy văn tự Tây Hạ đều nhầm rằng đây là chữ Hán, thực ra đây hoàn toàn là một loại văn tự khác. Cho tới nay, tổng cộng đã phát hiện ra hơn 5000 chữ trong văn tự Tây Hạ, tuy giống chữ Hán, nhưng không có bất cứ một chữ nào tương đồng với chữ Hán. Điều này đã phản ánh ý thức dân tộc mạnh mẽ của người Đảng Hạng. Chúng ta xem lại mấy văn tự Tây Hạ này nhé, nét nhiều nhưng rời rạc, nhiều nét nghiêng, đặc biệt là nét phẩy, nét mác, bởi vậy mới có sách lịch sử viết về văn tự Tây Hạ là ‘loại phù triện’, ý nói là nét chữ Tây Hạ nhiều mà rời rạc, mù mờ khó hiểu. Bởi vậy, sau khi Tây Hạ diệt vong, văn tự Tây Hạ nhanh chóng biến mất, chôn vùi trong tai họa rình rập.
Sau khi Tây Hạ bị người Mông Cổ tiêu diệt, văn tự Tây Hạ cũng nhanh chóng biến mất trong dòng chảy lịch sử, mấy trăm năm sau không ai hay biết. Mãi cho đến những năm Gia Khánh triều Thanh, một học giả người Cam Túc là Trương Tấu trở về quê dưỡng bệnh, khi đến một ngôi miếu ở Vũ Uy, phát hiện thấy một căn phòng nhỏ đóng kín, ông hỏi một nhà sư ở đó là: “Trong phòng có vật gì?” Nhà sư nói: “Trong phòng là một tấm bia, tấm bia này rất quái dị, e rằng là yêu nghiệt, bởi vậy mới để trong phòng đóng kín cửa”. Trương Tấu bao năm làm quan bên ngoài, nghe nhiều biết nhiều, không tin vào truyền thuyết ma quỷ nên đã yêu cầu nhà sư mở cửa phòng để xem thử là yêu nghiệt gì. Nhà sư không còn cách nào khác, đành phải mở cửa phòng cho Trương Tấu vào. Trương Tấu phát hiện trong phòng quả nhiên có một tấm bia, chữ trên tấm bia là những văn tự mà một đại học giả như ông chưa từng được biết đến, Trương Tấu lúc đó kinh ngạc thất sắc. Khi ông cẩn thận rón rén đi vòng ra sau tấm bia thì phát hiện ra mặt sau tấm bia có khắc chữ Hán, số chữ nhiều gần bằng chữ ở mặt trước. Trương Tấu bấy giờ mới hốt hoảng hiểu ra, hóa ra văn tự ở mặt trước chính là văn tự Tây Hạ đã biến mất! Tấm bia này chính là “Lương Châu trùng tu Hộ Quốc Tự cảm ứng tháp bia”[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ] rất nổi tiếng, hiện vẫn bảo tồn trong viện bảo tàng tại thành phố Vũ Uy.
Kể từ đó về sau, văn tự Tây Hạ dần dần được giới học thuật coi trọng. Năm 1909, nhà thám hiểm người Nga Kozlov tại di chỉ Hắc Thủy Thành thuộc lãnh thổ Ejinaqi đã đào trộm một lượng lớn văn hiến có viết văn tự Tây Hạ trên đó. Kozlov vận chuyển tất cả những văn hiến Tây Hạ này tới Petersburg, nhà Hán học nước Nga Ivanovich Ivanov đã phát hiện ra cuốn “Phiên Hán hợp thời chưởng trung châu” nổi tiếng trong văn hiến Tây Hạ được Kozlov chuyển về. Đây là một cuốn từ điển song ngữ tiếng Tây Hạ và tiếng Hán, do học giả Tây Hạ là Cốt Lạc Mậu Tài biên soạn. Ivanovich Ivanov nhờ có cuốn từ điển này đã đọc hiểu không ít văn hiến Tây Hạ cổ xưa. Ở nước ta, người bắt đầu nghiên cứu một cách hệ thống văn tự Tây Hạ là hai cha con học giả nổi tiếng La Chấn Ngọc và La Phúc Trường. Năm 1913, hai cha con La Chấn Ngọc và La Phúc Trường có được một phần của “Phiên Hán hợp thời chưởng trung châu” từ chỗ Ivanovich Ivanov. Trải qua nhiều năm nghiên cứu, La Phúc Trường đã dùng “Sáu phương pháp tạo nên chữ Hán truyền thống” là: tượng hình, chỉ sự, hình thanh, hội ý, giả tá, chuyển chú để phân tích văn tự Tây Hạ, giúp mọi người nâng cao rõ rệt kiến thức về cấu tạo văn tự Tây Hạ. Sau đó, ngày càng có nhiều học giả nghiên cứu văn tự Tây Hạ, nhưng do văn tự Tây Hạ biến mất đã nhiều năm nên đã không còn giá trị thực tế, cộng thêm nét chữ của văn tự Tây Hạ nhiều mà rời rạc, mù mờ khó hiểu, thế nên cho tới tận ngày nay, số học giả có thể nắm vững văn tự Tây Hạ chỉ còn lại thưa thớt vài người”.

[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ]() Loạn An Sử: là cuộc nổi dậy chống lại triều định nhà Đường do An Lộc Sơn và Sử Tư Minh cầm đầu, kéo dài từ năm 755 đến năm 762 - ND.


[Chỉ có thành viên đã kích hoạt và đăng nhập mới thấy được liên kết. ](). Còn được gọi là: tấm bia Tây Hạ, là tấm bia khắc số lượng chữ Tây Hạ đối chiếu với chữ Hán nhiều nhất và hoàn chỉnh nhất được phát hiện. Ban đầu bia đá này được đặt ở Đại Vân Tự, thời Tây Hạ, Đại Vân Tự được đổi tên thành Hộ Quốc Tự - ND.
trangceline2008 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 07-03-2012, 08:55 AM   #27
trangceline2008
Mọt sách
 
Tham gia ngày: Oct 2010
Bài gởi: 203
Xin cảm ơn: 7
Được cảm ơn 904 lần trong 168 bài
Default

4

Chính trong lúc mọi người đang rất đỗi ngạc nhiên về văn tự Tây Hạ cổ xưa thì Hàn Giang lại nhìn chằm chằm kệ tranh ngọc trước mặt, không nói một lời. Bề mặt kệ tranh ngọc này rút cuộc khắc nội dung gì? Có thực sự ly kỳ đáng sợ như vậy không? Bao nhiêu người vì nó mà mất mạng, huyết chú đáng sợ! … Văn tự trên kệ tranh ngọc, anh không hiểu nổi một chữ, thật là một cuốn thiên thư, không! Phải nói là tử thư! Nghĩ tới đây, Hàn Giang đột nhiên lên tiếng: “Giáo sư, vậy thì tiếp theo chúng ta sẽ giải thích nội dung của tử thư bí ẩn trên kệ tranh ngọc nhé”.
“Tử thư?” - Mọi người nghe thấy từ này thốt ra từ miệng Hàn Giang đều rất đỗi sợ hãi. Giáo sư La cũng hơi sững sờ, liền cười đáp: “Không sai, đội trưởng Hàn nói không sai, đây quả thực là một cuốn tử thư”.
“Tử thư! Lẽ nào giáo sư cũng không biết sao?” - Đường Phong ngạc nhiên hỏi.
Giáo sư La trầm ngâm hồi lâu, đáp: “Tôi vừa nói ban nãy rồi đấy, văn tự Tây Hạ giống như chữ Hán, có năm thể thư: Khải, Hành, Thảo, Triện, Lệ. Cho tới nay, tôi đã từng nhìn thấy bốn thể chữ Khải, Hành, Thảo, Triện trong văn tự Tây Hạ, chỉ có duy nhất thể chữ Lệ là chưa từng thấy trong văn tự Tây Hạ. Còn văn tự trên kệ tranh ngọc này, từ kinh nghiệm bao năm qua của tôi cho thấy, chúng vừa không phải là thể chữ Khải Tây Hạ, cũng không phải là thể chữ Hành Tây Hạ, càng không phải là thể chữ Thảo Tây Hạ hay thể chữ Triện Tây Hạ, bởi vậy bước đầu tôi phán đoán, văn tự Tây Hạ trên kệ tranh ngọc chắc là thể chữ Lệ Tây Hạ mà nhân thế chưa từng nhìn thấy!”
“A! Sao phức tạp vậy, vì chưa có ai từng nhìn thấy, vậy thì cũng chẳng có ai hiểu đâu nhỉ?” - Lương Viện không giấu nổi sự thất vọng.
“Khà khà, các bạn không phải sốt ruột đâu! Dù lần đầu tiên tôi đọc những văn tự này cũng không hiểu, nhưng rút cuộc cũng chỉ là thể chữ không giống, văn tự vẫn là văn tự Tây Hạ, nếu là thể chữ Khải và thể chữ Hành Tây Hạ thường thấy, thì chỉ cần một tiếng đồng hồ là tôi có thể dịch ra. Nguyên nhân đóng cửa một tuần là do cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy thể chữ Lệ. Vẫn may, thông qua một tuần nghiên cứu, tôi vừa đọc vừa mù mờ đoán nên cũng dịch được đại khái nội dung văn tự trên kệ tranh ngọc, chỉ có điều tôi cũng không thể hoàn toàn khẳng định…” - nói tới đây, giáo sư La ngưng bặt.
Hàn Giang nhìn giáo sư La đầy tin tưởng: “Giáo sư, bất luận là chính xác hay không, ngài cứ nói xem sao”.
Giáo sư La gật gật đầu, bắt đầu dịch những văn tự trên kệ tranh ngọc: “Văn tự trên kệ tranh ngọc phân thành hai phần trước sau, chữ ở phần trên ít hơn, hơi giống như phần mở đầu trong toàn bộ bài văn, bước đầu tôi tạm dịch ra, toàn bộ phần mở đầu này là: Tử tôn hữu nan, tứ bình hợp nhất, thiên sơn vạn thủy, cửu tử nhất sinh, Hạn Hải Mật Thành, nại trường sinh thiên tí hựu, khả đắc phục quốc chi tư, phục quốc chi nhân, phi ngã tử tôn, tất thụ huyết chú. Tổng cộng có 44 chữ, văn gốc không có dấu câu, dấu câu ở giữa là do tôi thêm vào, đây chỉ là bản dịch ban đầu của tôi, thâm tâm cũng không chắc chắn, đặc biệt là ‘Hạn Hải Mật Thành’ mấy chữ đó đã bị bào mòn, rất không rõ ràng”.
“Giáo sư, bốn mươi tư chữ này nghĩa là gì?” - Đường Phong nói ra sự thắc mắc trong lòng mọi người.
Sắc mặt giáo sư La đanh lại, hình như ông đang băn khoăn cân nhắc trùng trùng, mọi người đợi mãi một lúc lâu sau mới nghe thấy giáo sư La nói: “Bốn mươi bốn chữ này, theo như suy đoán ban đầu của tôi, có liên quan tới một bí mật lớn của vương triều Tây Hạ…”

5

Giáo sư La nói tiếp: “Dưới đây tôi sẽ đọc và giải thích từng câu, câu thứ nhất ‘tử tôn hữu nan’, tôi suy đoán chữ ‘nan’ này, chắc là chỉ đại nạn mà vương triều Tây Hạ gặp phải, chẳng hạn như khi thời kỳ đất nước gặp hoạn nạn, cũng ý nói là con cháu hậu duệ, nếu như đến lúc gặp đại nạn; câu thứ hai ‘tứ bình hợp nhất’, câu này tôi trăn trở suy nghĩ mãi, ngẫm nghĩ mãi mà chẳng ra, nhưng sau đó tôi phân tích xong toàn bộ, lúc quay lại nhìn câu này mới ngộ ra, bởi vậy chúng ta tạm thời không xem câu này, tiếp tục; hai câu sau là ‘thiên sơn vạn thủy, cửu tử nhất sinh’, hai câu này về mặt chữ nghĩa không khó giải thích, chúng nói về gian nan, nguy hiểm, gian nan và nguy hiểm gì nhỉ? Tôi nghĩ chắc là chỉ con đường gian nan, vượt qua sông núi ngàn trùng, thập tử nhất sinh; xem tiếp câu sau ‘Hạn Hải Mật Thành’, Hạn Hải Mật Thành là ý gì đây? Tôi lúc đầu cũng nghĩ không ra, nhưng tôi liên kết câu này với hai câu trước lại với nhau thì gần như đã hiểu ra, vượt qua sông núi ngàn trùng, thập tử nhất sinh là vì đi đâu đây? Là bởi vì đi đến Hạn Hải Mật Thành”.
“Hạn Hải Mật Thành? Đây là nơi nào mà phải vượt qua sông núi ngàn trùng, thập tử nhất sinh mới tới được? Bí ẩn thật đấy!” - Lương Viện hỏi giáo sư La.
Giáo sư La lắc lắc đầu: “Cả đời ta nghiên cứu lịch sử Tây Hạ nhưng cũng chưa bao giờ nghe thấy nơi nào tên là Hạn Hải Mật Thành cả”.
“Có khi nào nghĩa là thế này không nhỉ, Hạn Hải là một địa danh, Mật Thành là một địa danh, ‘Mật Thành’ nghe có vẻ giống tên của một thành phố” - Lương Viện đoán mò.
Đường Phong cũng suy đoán theo: “Hạn Hải, tôi thấy không có ý nghĩa gì đặc biệt cả, chính là chỉ sa mạc, Hạn Hải Mật Thành, ghép lại là nói về một thành trì bí mật trong sa mạc, gọi là Mật Thành”.
Giáo sư La nghe Đường Phong phân tích, khẽ gật đầu: “Điểm này tôi đồng ý với quan điểm của Đường Phong, Mật Thành rất có khả năng là một thành trì ẩn giấu trong sa mạc. Chúng ta xem tiếp, câu sau ‘nại trường sinh thiên tí hựu’, câu này chắc là không có ý nghĩa thực tế gì, chỉ là ý nghĩa cầu nguyện ông trời phù hộ. Trung Quốc cổ đại, rất nhiều dân tộc du mục ở phương bắc như Mông Cổ, Khiết Đan, Đảng Hạng… đều sùng bái ông trời. Khi ra ngoài chinh chiến, săn bắn, phàm là có hoạt động gì quan trọng, họ đều phải cử hành nghi thức, cầu nguyện ông trời phù hộ. Hai câu sau, ‘khả đắc phục quốc chi tư, phục quốc chi nhân’, theo như suy đoán của tôi, nghĩa là nói vượt qua sông núi ngàn trùng, thập tử nhất sinh, tìm thấy Hạn Hải Mật Thành là có thể có được tài nguyên phục quốc, nhân lực để phục quốc, ‘phục quốc chi tư’ may mà còn dễ lý giải, chính là của cải, của cải có thể đủ để phục quốc các bạn thử nghĩ xem phải có bao nhiêu?”
“Tôi đã hiểu ra chút ít rồi, thảo nào mấy trăm năm nay, bao nhiêu người muốn có được kệ tranh ngọc này, hóa ra không chỉ là vì báu vật này, mà còn vì kho tài nguyên phục quốc khác thường đó!” - Lời của Đường Phong khiến mọi người đều bừng tỉnh.
Trước mắt mọi người bừng lên ánh sáng, gần như chuỗi sự việc này đã lần ra đầu mối, nhưng giáo sư La vẫn chau mày băn khoăn: “Các bạn đừng vui mừng vội, việc này không đơn giản chỉ là tranh giành một đống của cải khổng lồ. ‘Phục quốc chi tư’ thì dễ lý giải, nhưng ‘phục quốc chi nhân’ thì nên lý giải thế nào đây?”
Phục quốc chi nhân! Lẽ nào là một đội quân? Sao lại như vậy được, mọi người đều chìm trong im lặng. Giáo sư La nói tiếp: “Được! Chúng ta tạm thời không để ý tới ‘phục quốc chi nhân’ này nữa, xem tiếp hai câu cuối cùng, ‘phi ngã tử tôn, tất thụ huyết chú’ ”.
Khi mấy từ “tất thụ huyết chú” thốt ra từ miệng giáo sư La, trong lòng tất cả mọi người trong mật thất đều run rẩy, huyết chú! Huyết chú đáng sợ! Hóa ra chính là nội dung khắc trên kệ tranh ngọc này.
Phi ngã tử tôn, tất thụ huyết chú. Hai câu này tuy đáng sợ, nhưng lại dễ hiểu, đây là lời nguyền rủa lúc đó của người chế tác ra kệ tranh ngọc này, nếu như người nào không phải con cháu Tây Hạ đoạt được kệ tranh ngọc, tìm thấy Hạn Hải Mật Thành, thì sẽ bị huyết chú”. Giáo sư La giải thích xong, lại nhìn mọi người, ai ai cũng nặng trĩu tâm trạng, đến ngay cả Hàn Giang và Triệu Vĩnh vốn không tin quỷ thần mà sắc mặt cũng sầm xuống.
Vẫn là Lương Viện hỏi trước: “Vậy thì chúng ta cũng sẽ gặp phải lời nguyền của huyết chú?”
Giáo sư La cười đáp: “Thực ra, đây phần lớn là cách người xưa dùng để đe dọa người khác”.
“Giáo sư, có lẽ ngài vẫn chưa biết, nửa tháng nay, ngoài Lương Vân Kiệt ra, đã có một số người vì kệ tranh ngọc này mà mất mạng” - Hàn Giang rút cuộc cũng mở miệng.
Lời của Hàn Giang khiến giáo sư La cũng kinh ngạc. Trầm ngâm một hồi, giáo sư La mới khó nhọc nhoẻn một nụ cười: “Mọi người không cần phải lo lắng, dựa vào bao năm nghiên cứu của tôi, sau khi vương triều Tây Hạ bị diệt vong, rất nhiều người Đảng Hạng đã gia nhập đại quân Mông Cổ, người Mông Cổ gọi những người Đảng Hạng này là quân ‘Đường Ngột Thích’, trong đó có một nhánh sau này đã lấy chữ ‘Đường’ làm họ của mình, định cư tại nội địa, do đó mà nói, Đường Phong, cậu xem ra rất có khả năng là hậu duệ của người Đảng Hạng đấy! Vì đã là con cháu của người Đảng Hạng, nên cũng không nhất thiết phải lo lắng huyết chú gì đâu, khà khà”.
“Cái gì? Tôi là hậu duệ của người Đảng Hạng! Giáo sư La, ngài đừng an ủi chúng tôi như thế chứ!” - Mọi người đều biết giáo sư La bịa ra một lý do để an ủi mọi người, nhưng Đường Phong vẫn cứ bóc mẽ ông.
“Được rồi, đừng loanh quanh với cái ‘huyết chú’ nữa, chúng ta khi đã gia nhập lão K, thì sẽ không sợ huyết chú nào cả!” - Lời của Hàn Giang cất lên rất đanh thép và đầy cương quyết.

6

Hàn Giang nhìn khắp mọi người trong phòng một lượt, rồi nghiêm túc nói: “Bóc gỡ bí mật của kệ tranh ngọc vốn rất nguy hiểm, nhưng tôi không tin huyết chú nào hết. Lẽ nào con người mấy trăm năm trước còn có thể sống lại để cản trở chúng ta? Chỉ có những đối thủ tham lam, hung tàn, họ mới thực sự là kẻ thù của chúng ta! Giáo sư La, ngài vẫn chưa giải thích xem câu thứ hai nghĩa là gì?”
Giáo sư La nhìn Hàn Giang, tiếp tục giải thích: “Trước đó tôi đã nói rồi, ban đầu tôi cũng không hiểu câu thứ hai ‘tứ bình hợp nhất’ nghĩa là gì? Nhưng khi tôi đọc và giải thích xong toàn văn, quay lại xem câu thứ hai, hình như bắt đầu lý giải hàm ý của tứ bình hợp nhất. ‘Tứ bình hợp nhất’, tôi suy đoán chắc là có bốn kệ tranh ngọc…”
“Bốn kệ tranh ngọc?” - Giáo sư La nói tới đây, mọi người đều tròn mắt kinh ngạc.
“Đúng vậy, bốn kệ tranh ngọc, chỉ có ghép bốn kệ tranh ngọc lại với nhau, mới có thể biết được vị trí chính xác của Hạn Hải Mật Thành, các bạn xem…”, vừa nói, giáo sư La vừa đeo găng tay trắng vào, lật úp mặt sau kệ tranh ngọc lên, chỉ vào một vài chỗ lõm, nói: “Mọi người hãy nhìn viền những chỗ lõm xuống ở mặt sau, theo như suy đoán của tôi, mặt sau kệ tranh ngọc là một tấm bản đồ được khắc chìm”.
“Bản đồ?”
“Nói chính xác là bản đồ hướng tới Hạn Hải Mật Thành”.
“Liệu đó có phải là một bức bản đồ kho báu?” - Lương Viện hỏi.
Giáo sư La cười đáp: “Cháu muốn nói vậy cũng được, nhưng chỉ có một bức thì không đủ, phải tập hợp bốn kệ tranh ngọc này, ghép chúng lại với nhau, mới có thể nhìn rõ bản đồ hướng tới Hạn Hải Mật Thành”.
“Ồ!” - Lương Viện gật gật đầu.
“Cũng với ý nghĩa như vậy, văn tự Tây Hạ trên mặt chính của kệ tranh ngọc, trừ phần thứ nhất mà chúng ta đã giải mã được ra, phần chữ chính to hơn ở phía dưới, theo tôi suy đoán thì chính là địa điểm mà bốn kệ tranh ngọc được cất giấu, cũng có khả năng vẫn còn một số tin tức liên quan tới Hạn Hải Mật Thành. Dưới đây chúng ta sẽ xem xem phần chữ chính trên kệ tranh ngọc, thông qua bước đầu phiên dịch, phần chính của kệ tranh ngọc dịch sang chữ Hán là ‘Hắc Đầu Thạch Thất hoang thủy vực, xích diện phụ chủng bạch cao hà, trường miên di dược nhân quốc tại bỉ’ ”.
Giáo sư La đọc tới đây rồi im bặt. Lương Viện thúc giục: “Giáo sư, sao ông không đọc tiếp ạ?”
“Hết rồi, ông đã đọc hết rồi.”
“Cái gì? Phần chữ chính chỉ có mấy chữ này thôi sao?”, mọi người vô cùng thất vọng.
“Đúng vậy, phần chữ chính của kệ tranh ngọc này chỉ có 21 chữ”.
Đường Phong nghe mấy câu chữ Tây Hạ mà giáo sư La phiên dịch, bỗng nhiên kinh ngạc: “Mấy… mấy câu này hình như tôi đã được nghe qua, đúng rồi, chính là bảy bức thư đó, thư của viện sỹ Alekseev viết cho Menshikov, ở cuối bức thư đó, Alekseev đột nhiên viết thêm một đoạn, nói rằng năm đó, trước khi Ivanovich Ivanov chết, đã từng nhắc tới mấy câu thơ, chính là mấy câu này”.
“Đúng! Đường Phong, khi tôi phiên dịch ra mấy câu này, tôi cũng đã rất ngạc nhiên, điều đó cho thấy năm đó Ivanovich Ivanov đã từng giải mã được mấy câu thơ này, đáng tiếc sau đó ông đã qua đời, không thể tiếp tục nghiên cứu được nữa”.
“Vậy bài thơ đó nghĩa là gì nhỉ? Có liên quan gì tới kệ tranh ngọc?” - Đường Phong hỏi.
“Câu thơ này thuật lại địa điểm mà chắc là thời kỳ đầu người Đảng Hạng đã từng sinh sống, ‘bạch cao hà’, tôi cho rằng đó là chỉ lưu vực Bạch Hà thuộc tây bắc Tứ Xuyên hiện nay, đây vốn là nơi tụ tập sinh sống của người Đảng Hạng thời kỳ đầu, còn Hắc Đầu Thạch Thất rất có khả năng chính là nơi cất giấu một trong ba kệ tranh ngọc còn lại. Nếu như suy đoán của tôi đều chính xác thì sẽ có ý nghĩa học thuật vô cùng trọng đại đối với việc viết lại toàn bộ lịch sử Tây Hạ.” - Có thể nhận thấy, giáo sư La đã cất cao giọng khi nói tới đây.
“Nói như vậy, tìm thấy Hắc Đầu Thạch Thất chính là mục tiêu tiếp theo của chúng ta rồi!” - Triệu Vĩnh vừa nói vừa đưa ánh mắt thăm dò về phía Hàn Giang.
Mọi người đều nhìn Hàn Giang, nhưng Hàn Giang vẫn im lặng, và Đường Phong lại là người cất lời: “Các vị, không phải tôi nghi ngờ trình độ nghiên cứu của giáo sư La, nhưng chỉ dựa vào chút chứng cứ hiện giờ liền suy đoán là có bốn kệ tranh ngọc, rồi lại nói Hắc Đầu Thạch Thất gì đấy có cất giấu các kệ tranh ngọc khác, thì tôi vẫn chưa thể tin được. Hơn nữa, chúng ta cũng không biết vị trí cụ thể của Hắc Đầu Thạch Thất này ở đâu thì đi tìm thế nào đây?”
Giáo sư La rất bình tĩnh nói: “Tôi đã nói rồi, tất cả những điều này đều chỉ là suy đoán của cá nhân tôi, nhưng cậu hỏi vừa rồi khiến tôi nhớ ra, trên kệ tranh ngọc có một chứng cứ có thể chứng minh cho phán đoán của tôi, có thể các bạn vẫn chưa biết trên kệ tranh ngọc này còn có một chữ Hán”.
“Ồ! Trên kệ tranh ngọc có một chữ Hán, sao tôi không nhìn thấy nhỉ?” - Đường Phong tỏ rõ vẻ nghi ngờ.
Giáo sư La xoay kệ tranh ngọc chếch đi một chút rồi, chỉ lên vách bên cạnh kệ tranh ngọc và nói với mọi người: “Mời các vị xem, ở đây có một chữ Hán rất nhỏ”.
Mọi người quây lại gần hơn, chăm chú quan sát, quả nhiên, tất cả đều nhận ra, trên vách bên cạnh kệ tranh ngọc, có một chữ “Bạch” nho nhỏ.
“Chữ ‘Bạch’ này lại nói lên điều gì đây?” - Đường Phong thắc mắc.
“Nói lên điều gì? Chữ ‘Bạch’ này thực ra là tên của kệ tranh ngọc!”
“Tên? Tên của nó không phải là kệ tranh ngọc nổi gân cổ chạm châu báu Tây Hạ sao?” - Đường Phong cảm thấy đầu óc càng mụ mị hơn trước.
“Tôi đã từng nói rồi, tôi suy đoán tổng cộng có bốn kệ tranh ngọc, chỉ tới khi nào ghép bốn kệ tranh ngọc này lại với nhau mới có thể hoàn toàn biết được trên kệ tranh ngọc viết những gì, mới có thể nhìn rõ bản đồ phía sau kệ tranh ngọc. Vậy thì, người chế tác lúc tạo ra bốn kệ tranh ngọc này, nhất định đã đánh số hiệu cho từng kệ tranh ngọc. Chữ ‘bạch’ viết bằng chữ Hán này, chính là số hiệu của kệ tranh ngọc này hoặc là tên của nó: tên gọi đầy đủ của kệ tranh ngọc này chắc phải là: kệ tranh ngọc nổi gân cổ chạm châu báu Tây Hạ tên Bạch”.
trangceline2008 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 07-03-2012, 08:57 AM   #28
trangceline2008
Mọt sách
 
Tham gia ngày: Oct 2010
Bài gởi: 203
Xin cảm ơn: 7
Được cảm ơn 904 lần trong 168 bài
Default

7

“Kệ tranh ngọc nổi gân cổ chạm châu báu Tây Hạ tên Bạch? Vậy những kệ tranh ngọc khác thì đánh số hiệu gì đây?” - Đường Phong hỏi.
“Hãy nghe tôi từ từ nói, mọi người biết rồi đấy, tên gọi ‘Tây Hạ’ này là tên gọi trong sử thi Hán văn, vốn không phải là quốc hiệu, mà người Đảng Hạng tự đặt. Quốc hiệu mà người Đảng Hạng tự đặt, trong giới học thuật có rất nhiều cách nói khác nhau. Rất nhiều học giả đều cho rằng, người Đảng Hạng tự xưng quốc gia của mình là ‘Đại Bạch Cao Quốc’ hoặc ‘Bạch Cao Đại Quốc’. Còn có một cách nói khác, cho rằng người Đảng Hạng tự xưng quốc gia mình là ‘Bạch Cao Đại Hạ Quốc’, tên gọi này là do học giả nước Nga Evgenij Ivanovich Kychanov nghiên cứu Tây Hạ, căn cứ vào cuốn “Đại tàng kinh Tây Hạ văn” được bảo tồn trong viện bảo tàng nhân loại học tại Stockholm Thụy Điển, phiên dịch từng chữ thành chữ Hán mà có được. Bản thân tôi cũng đồng ý hơn với cách nói này. Lại nói về kệ tranh ngọc trước mặt chúng ta, từ những văn tự khắc trên bề mặt có thể phán đoán, kệ tranh ngọc này chắc là kệ đầu tiên trong bốn kệ tranh ngọc, bởi vì, đối chiếu với bốn chữ ‘Bạch, Cao, Đại, Hạ’ mà tôi suy đoán, ba kệ tranh ngọc còn lại sẽ lần lượt là kệ tranh ngọc chữ ‘Cao’, kệ tranh ngọc chữ ‘Đại’, kệ tranh ngọc chữ ‘Hạ’ ”. Suy đoán của giáo sư La khiến mọi người tăng thêm lòng tin, và dường như đã càng lúc càng cận kề hơn với chân tướng của sự việc.
Giáo sư La tiếp tục nói: “Tôi bổ sung thêm một điểm, nếu như chúng ta thực sự tìm ra Hạn Hải Mật Thành, vậy thì ở đó sẽ có gì đây? Kho báu, cái này đương nhiên là có, thậm chí còn có rất nhiều rất nhiều kỳ châu dị bảo, nhưng tôi lại không hứng thú với kho báu. Năm 1908, Coats Ivanov đã phát hiện ra Hắc Thành và đã khai quật với con số lên tới hàng vạn văn vật Tây Hạ. Tôi nghĩ cái Hạn Hải Mật Thành này chắc chắn sẽ to hơn Hắc Thành, còn trọng đại, hoành tráng hơn thì tôi không dám tưởng tượng. Ở đó có thể chôn giấu bao nhiêu di sản văn hóa, làm chấn động thế giới, có lẽ sẽ có một bộ “Đại tàng thư” hoàn chỉnh bằng chữ Tây Hạ, có lẽ sẽ có vô số tượng phật tinh xảo, còn huy hoàng hơn cả Đôn Hoàng vĩ đại, có lẽ còn có rất nhiều những kỳ tích mà chúng ta có nghĩ cũng không nghĩ tới…” - giáo sư La đã không thể giấu được sự hưng phấn, ông đã hoàn toàn say sưa trong Hạn Hải Mật Thành của mình.
Cuối cùng, Hàn Giang đứng thẳng dậy, tổng kết với mọi người: “Tôi cho rằng, suy đoán của giáo sư La là hợp tình hợp lý, mục tiêu tiếp theo của chúng ta là bắt buộc phải vượt mặt đối thủ, tìm đủ bốn kệ tranh ngọc, giải mã bí mật của Hạn Hải Mật Thành”.
“Nhưng, bước tiếp theo chúng ta phải hành động thế nào đây?” - Đường Phong hỏi Hàn Giang.
Hàn Giang không trả lời, giáo sư La lên tiếng: “Muốn tìm kệ tranh ngọc Hắc Đầu Thạch Thất, tôi lại nhớ tới một manh mối. Vào thập niên 20, 30 của thế kỷ trước, nhà thám hiểm người Mỹ Joseph Rock hoạt động sôi nổi tại khu vực phía tây Tứ Xuyên. Rồi vào những năm cuối đời, trong một bài viết của mình, ông đã nhắc tới thông tin sau chuyến khảo sát núi tuyết Minya Konka nằm ở tận cùng tây bắc Tứ Xuyên, do một trận lở bùn đá đáng sợ nên ông đã tới nhầm một đào nguyên ngoại thế. Ở đó non xanh nước biếc, dân chúng hồn hậu, người dân sùng bái đạo Phật, nhưng lại gìn giữ một số lượng lớn phong tục tôn giáo nguyên thủy. Thủ lĩnh địa phương và Lạt ma tiếp đãi Rock vô cùng nhiệt tình, cuối cùng đã dẫn ông ra khỏi đào nguyên bên ngoài nhân gian đó. Rock nhiều năm sinh sống tại Trung Quốc, am hiểu sâu sắc văn hóa Trung Quốc, ông phát hiện ra phong tục tập quán và tướng mạo của những người sinh sống ở đó rất khác biệt so với cư dân của khu vực phía tây Tứ Xuyên khác. Bởi vậy ông cho rằng, cư dân ở đây là từ nơi khác di cư tới. Tiếp đó Lock đã táo bạo suy đoán: của cư dân ở đó chính là hậu duệ của người Đảng Hạng di cư tới khu vực phía tây Tứ Xuyên, để chạy trốn sự truy sát của thiết kị binh Mông Cổ”.

8

Đường Phong nghiêng đầu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi hỏi lại giáo sư La: “Tôi cũng từng nghe qua tại khu vực Xuyên Tây có hậu duệ người Đảng Hạng, nhưng trong trí nhớ của tôi, đó hình như là chỉ khu vực Mộc Nhã. Rock đã từng cho rằng, người Mộc Nhã chính là hậu duệ của người Đảng Hạng, nhưng sau này vì ông tới đào nguyên ngoại thế đó nên đã thay đổi quan điểm. Ông cho rằng cư dân sống ở đó càng giống hậu duệ của người Đảng Hạng hơn. Sau này Rock vẫn muốn đi tìm lại vùng đào nguyên đó, nhưng ông đi khắp hang động vách núi thuộc dải tây bắc Tứ Xuyên mà cũng không tìm thấy vùng đào nguyên ngoại thế này. Vậy là, Rock đã gọi vùng đất đó là ‘Shangri La cuối cùng’, trở thành điều tiếc nuối cuối cùng của cuộc đời ông”.
“Lẽ nào Lock không để lại vật gì đó, như một tấm ảnh chẳng hạn?” - Đường Phong hỏi.
Giáo sư La lắc lắc đầu, “Không có, bản thân ông nói rằng, trước khi ông đi vào vùng đào nguyên ngoại thế đó, ông đã gặp phải một trận lở bùn đá đáng sợ. Ông đã thất lạc những người đồng hành khác, máy ảnh cùng những thiết bị khác mà ông mang theo cũng bị trôi theo bùn đá, bởi vậy không thể lưu lại hình ảnh hay tài liệu gì. Còn về lần đi lạc đó, ông chỉ để lại những dòng ghi chép ngắn gọn. Trong đoạn ghi chép này, Rock còn đặc biệt nhắc tới ngọn núi ở gần đó mà người địa phương sùng bái, và kể lại trong hang núi trên tuyết sơn có cất thánh vật của họ. Điều này hình như có mối liên hệ nào đó với Hắc Đầu Thạch Thất trong truyền thuyết”.
“Ý ngài là Hắc Đầu Thạch Thất rất có khả năng ở đó?” - Lương Viện ngạc nhiên hỏi.
Giáo sư La khẽ gật đầu, đáp: “Khả năng này rất lớn, nếu giống như Rock từng suy đoán, ở đó có hậu duệ của người Đảng Hạng sinh sống, vậy thì, hang núi mà người địa phương thường nói rất có khả năng chính là Hắc Đầu Thạch Thất. Còn bản thân tôi vô cùng ngưỡng mộ Lock, ông là một nhà thám hiểm rất cẩn thận và nghiêm túc, đồng thời cũng là một học giả, tôi nghĩ độ tin cậy trong những lời nói của ông khá cao”.
Đường Phong hình như đã hiểu ra ý của giáo sư La, “Giáo sư La, ý của ông là muốn chúng tôi đi tìm kiếm đào nguyên ngoại thế mà Lock gọi là ‘Shangri La cuối cùng’, tìm kiếm hậu duệ của người Đảng Hạng ở đó, tìm hiểu tình hình liên quan tới Hắc Đầu Thạch Thất?”
“Đúng vậy, hiện nay đây chính là manh mối duy nhất của chúng ta, tôi tin chắc địa danh đó thực sự tồn tại” - Giáo sư La nói rất kiên định.
Đường Phong nhìn nhìn giáo sư La, rồi lại nhìn Hàn Giang, như muốn nghe ý kiến của anh. Hàn Giang trầm tư hồi lâu, lúc này mới cất lời: “Tôi tin tưởng vào phán đoán của giáo sư La, tìm thấy đào nguyên ngoại thế mà Rock đã từng đến, chính là mục tiêu của chúng ta”. Hàn Giang lại nhìn một lượt mọi người đang ngồi bên dưới, đưa ra mệnh lệnh: “Hành động lần này của chúng ta phải tiến hành trong tình trạng bảo mật, do tôi và Đường Phong thực thi, những người khác ở lại đây trấn thủ, khi tôi không có mặt, công việc ở đây do Triệu Vĩnh phụ trách”.
Nói xong, Hàn Giang quay ra bàn giao cho Triệu Vĩnh: “Sau khi tôi đi phải luôn luôn giữ liên lạc với tôi, đồng thời đảm bảo tốt viện trợ…” - Hàn Giang đang nói thì Lương Viện liền ngắt lời anh, hỏi thẳng thừng: “Sao lần hành động này không cho tôi đi theo?”
Hàn Giang quay đầu lại nhìn Lương Viện, nghiêm mặt nói: “Lần hành động này, rất có khả năng chúng ta phải thâm nhập vào hang sâu trên tuyết sơn, có khi còn gặp phải sự công kích của kẻ thù, cô là con gái, sao mà đi được!”
“Vậy thì tôi làm gì?”
“Cô hãy ở đây chăm sóc giáo sư La, đợi tôi trở về.”
Lương Viện vẫn muốn tranh luận nhưng Hàn Giang không buồn để ý đến cô nữa, anh cùng Triệu Vĩnh đi ra khỏi mật thất, chỉ còn lại Lương Viện bĩu môi, đứng ngây trước cửa… Đường Phong thấy bộ dạng Lương Viện như vậy, không nhịn cười, đúng lúc đó thì bị Lương Viện nhìn thấy, cô trợn mắt lườm Đường Phong một cái, nói không chút hào khí: “Anh cứ cười đi, không cho tôi đi, tôi cũng sẽ đi bằng được, hừm! Từ bé đến lớn, chưa có ai từng ngăn cản được bổn cô nương”.
Đường Phong thu lại nụ cười, cũng bắt chước điệu bộ của Hàn Giang, nghiêm mặt nói với Lương Viện: “Tiểu thư Lương, đây không phải là nơi để cô dở thói đỏng đảnh đâu nhé, tôi thấy cô nên ở lại đây chăm sóc giáo sư La đi”.
Lương Viện bị Đường Phong chọc tức như vậy bèn đẩy xe lăn của giáo sư La, thở hổn hển bỏ đi, trong mật thất chỉ còn lại Đường Phong. Đường Phong đứng bên cửa sổ, vén một góc tấm rèm cửa dày cộm lên, phía xa xa, những dãy núi tĩnh mịch, trong lòng Đường Phong bỗng đột nhiên trào lên một dự cảm không lành.
trangceline2008 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 07-03-2012, 09:01 AM   #29
trangceline2008
Mọt sách
 
Tham gia ngày: Oct 2010
Bài gởi: 203
Xin cảm ơn: 7
Được cảm ơn 904 lần trong 168 bài
Default

CHƯƠNG 7
Hạ cánh khẩn cấp


1

Năm 1227, Hưng Khánh Phủ, thời khắc cuối cùng của vương triều Tây Hạ, bị kị binh Mông Cổ hùng mạnh nhất thế giới bao vây, nên thành quách đã cô độc vài tháng nay. Thành Cát Tư Hãn oai phong ngạo mạn, ngồi chỉnh tề trong lều, kiểm duyệt đội kị binh đã theo ông quét sạch đại lục Âu Á… Đột nhiên, một thiếu niên áo trắng từ trên trời rơi xuống, tay cầm bảo kiếm, rạch nát lều, tấn công Thành Cát Tư Hãn từ cửa lều. Thành Cát Tư Hãn né người tránh một đao, đang định rút dao phản kích thì thiếu niên này lại bồi thêm một kiếm, đâm thẳng giữa ngực Thành Cát Tư Hãn, kiếm bay vun vút như gió, Thành Cát Tư Hãn không còn chỗ nào để nấp, ngã nhào trong những nhát kiếm. Đợi tới khi các chư hầu đứng ngoài lao vào trong lều thì thiếu niên áo trắng đã cúi rạp người, bay ra khỏi lều, cuốn theo bụi trần… Nhìn lại thì Thành Cát Tư Hãn, bá vương của Âu Á đại lục này đã tắt thở. Chính trong thời khắc mà vị vĩ nhân này mê man lìa đời, ông, Bột Nhi Chỉ Cân Thiết Mộc Chân, Hãn vương vĩ đại nhất trên thảo nguyên trong lịch sử từ trước tới nay, với tấm thân tàn, lấy danh nghĩa trường sinh thiên chỉ lên trời thề rằng: dĩ tử chi, dĩ diệt chi, dĩ tuyệt chi! Vậy là, ngày đen tối nhất trong lịch sử vương triều Tây Hạ đã đến…
Vào cái đêm Hưng Khánh Phủ thành bị phá vỡ, kị binh Mông Cổ đã tuân theo lời trăn trối trước khi chết của Thành Cát Tư Hãn, triển khai thảm sát đẫm máu người Đảng Hạng, đàn ông đầu lìa khỏi xác, đàn bà thì bị làm nhục. Thiếu niên áo trắng tay giữ bảo kiếm, chỉ lo giết địch, cậu vừa đánh vừa rút lui, lui vào một mảnh sân to trong một ngôi nhà sâu hun hút, nhưng chỉ thấy xác người la liệt, máu chảy thành sông, hai tên lính Mông Cổ đang định hãm hiếp phụ nữ. Thiếu niên áo trắng xông lên, vung kiếm trong tay kết liễu hai tên lính Mông Cổ đó. Thiếu niên hỏi người phụ nữ: “Đây là phủ đệ của gia đình nào vậy?”
Người phụ nữ không trả lời, mà lôi một tay nải từ trong người ra, đưa cho thiếu niên: “Nhanh! Nhanh đưa tay nải này rời khỏi đây!”
“Trong này có gì vậy?” - Thiếu niên không hiểu ý của người phụ nữ.
Người phụ nữ kìm nén sự đau đớn uất hận, xé nát tâm can hét lên với thiếu niên áo trắng: “Đây là hy vọng của người Đảng Hạng chúng ta, nhanh đem tay nải này rời khỏi đây, đi càng xa càng tốt…”
Nói xong, người phụ nữ lao đầu vào cột chết. Thanh niên áo trắng lau khô nước mắt, khoác tay nải, lao ra cửa. Ngoài đó, trừ xác của người Đảng Hạng ra thì chỉ còn lại đám kị binh Mông Cổ giết người tới đỏ cả mắt. Thiếu niên áo trắng vừa xuất hiện trên phố thì đã đụng ngay một kị binh Mông Cổ, hắn múa đao cong vút lao tới. Thiếu niên thấy vậy, nhưng không hoảng loạn, cầm chắc thanh kiếm, chỉ đợi tên kị binh Mông Cổ lao tới đâm mình. Tên kị binh Mông Cổ tiến lại phía cậu mỗi lúc một gần, thiếu niên đã có thể nhìn thấy máu tươi nhỏ từ lưỡi đao xuống. Chính trong giây phút tên kị binh Mông Cổ lao tới trước mặt, thiếu niên liền né người một cái, một ánh đao lóe sáng trên con phố, tên kị binh Mông Cổ ngã ngựa trong tiếng thét gào. Thiếu niên áo trắng chạy nhanh vài bước, bay lên không trung, nhảy lên con hắc mã của tên kị binh Mông Cổ, xiết mạnh dây cương, ngựa đen quay đầu, phi thẳng ra khỏi cửa nam của Hưng Khánh Phủ. Trước cổng thành, người Mông Cổ bắn tên như mưa, thiếu niên áo trắng rạp người xuống lưng ngựa, lao qua vòng vây.
Hắc mã phi vun vút trên đường, qua thảo nguyên, sa mạc, hoang mạc, vách núi, rừng sâu. Thiếu niên cũng không biết mình đã đi được bao xa, cũng không biết con hắc mã này muốn đưa mình tới đâu, bởi chỉ có tiếng gió vun vút bên tai cậu… Đột nhiên, hắc mã hí lên một tràng dài, hai chân trước chồm lên cao, rồi khựng lại không chịu bước tiếp. Thiếu niên áo trắng kinh ngạc, tập trung quan sát, lúc này mới phát hiện ra phía trước chính là dãy núi tuyết trùng trùng điệp điệp nguy nga đang chặn đứng đường đi của mình! Còn phía sau, cậu đã nghe thấy tiếng vó ngựa của kị binh truy đuổi. Quay ngựa đại chiến một trận với truy binh, hay là vượt qua núi tuyết? Truy binh phía sau càng lúc càng gần, núi tuyết phía trước cao vút chạm mây, đi đâu về đâu? Đây thực là một vùng đất chết…

2

“Vùng đất chết! Tôi phải làm thế nào? Làm thế nào đây?” - Đường Phong sau khi hét lên một tiếng thất thanh, rút cuộc đã tỉnh dậy, anh phát hiện xung quanh chẳng có truy bình nào cả, cũng chẳng có tuyết sơn, chỉ có một đám hành khách đang nhìn mình bằng ánh mắt kinh ngạc.
“Không có gì, ban nãy nằm mơ thấy ác mộng.” - Nói xong, Đường Phong lại đổ người lên lưng ghế. Anh lau vệt mồ hôi trên trán, quay mặt đi, nhìn thấy tầng mây bên ngoài cửa máy bay, cuối cùng anh cũng nhớ ra, mình đang trên chuyến bay bay tới Thành Đô.
Mục tiêu hành động lần này của anh và Hàn Giang là tới vùng phía tây Tứ Xuyên, Cam Nam và khu vực Đông bắc Thanh Hải để tìm các kệ tranh ngọc khác. Nhưng khu vực này vắt ngang ba tỉnh Tứ Xuyên, Cam Túc, Thanh Hải, nối liền mấy chục ki lô mét vuông của mười mấy dân tộc Hán, Tạng, Khương, Hồi… Trên diện tích lãnh thổ rộng lớn như vậy, trong môi trường phức tạp như vậy, mà tìm kiếm một kệ tranh ngọc bé xíu, thì cũng đủ tưởng tượng ra sẽ khó khăn đến mức nào. Nhưng hiện giờ họ chỉ có một manh mối duy nhất, chính là “Hắc Đầu Thạch Thất” mà giáo sư La đã suy đoán ra từ những ghi chép ngắn gọn của nhà thám hiểm Rock.
Trong hai tháng qua, Đường Phong đã phải chịu đựng sự huấn luyện quá tải: hàng ngày dậy từ lúc 6 giờ sáng, cùng Triệu Vĩnh đeo đồ nặng chạy năm cây số, ăn sáng xong, vẫn còn cả một đống bài tập thể lực, tiếp theo đó Hàn Giang sẽ giới thiệu giảng giải cho Đường Phong về nguyên lý của các loại súng máy; ăn xong bữa trưa thì thực hành bắn súng; ba giờ chiều, Triệu Vĩnh giảng dạy dã ngoại sinh tồn, bao gồm cả việc làm thế nào để tồn tại trong điều kiện hoang dã không có thực phẩm và thuốc men. Nhưng điều khổ sở nhất mà anh phải làm là học cách ăn thịt sống. Mùi vị của thức ăn sống nơi hoang dã đã khiến Đường Phong thực sự không dám nếm thử. Triệu Vĩnh từng bắt ép Đường Phong ăn nguyên cả một con rắn sống, và chính vì con rắn này mà Đường Phong đã nôn mửa cả ngày. Triệu Vĩnh đành phải bó tay từ bỏ ý định huấn luyện Đường Phong trở thành người nhái hải quân lục chiến.
Từng đấy vẫn chưa thấm vào đâu. Buổi sáng, Đường Phong còn phải theo giáo sư La học văn tự Tây Hạ. Đối mặt với những văn tự đã biến mất 700 năm nay, Đường Phong vốn cho rằng mình có chút tài năng ngôn ngữ bẩm sinh nhưng giờ đều không có tác dụng gì cả. Hai tháng dạy như nhồi vịt với cường độ cao, Đường Phong cũng chỉ nắm được một vài từ vựng thường dùng. Chính sau hai tháng huấn luyện đặc biệt này, Đường Phong và Hàn Giang đã cùng nhau đáp chuyến bay từ Bắc Kinh tới Thành Đô.
Trước khi lên máy bay, Đường Phong đã thắc mắc với Hàn Giang: “Sao lần này chỉ có hai chúng ta, khu vực rộng lớn như vậy thì phải tìm tới bao giờ. Chúng ta hoàn toàn có thể điều động cả một đội quân để cùng tìm kiếm kệ tranh ngọc mà? Tại sao chúng ta phải đi máy bay dân dụng, sử dụng máy bay quân đội không phải càng an toàn và tiện lợi hay sao?”
Hàn Giang lắc lắc đầu, than thở: “Tiểu tử, cậu dù sao cũng không hợp với cái ngành này, thiếu nhiệt lắm! Cậu nghĩ xem, từ hành động thời gian trước của chúng ta cho thấy, đối thủ của chúng ta thực lực không hề tầm thường, nên phần lớn hành động của chúng ta đều không lọt qua được mắt chúng. Bởi vậy, hai chúng ta sẽ giống như những khách thông thường đến du lịch, đó mới là cách tìm kiếm kệ tranh ngọc tốt nhất; vì động tĩnh càng ít chúng ta càng an toàn. Hơn nữa, thực tế có kệ tranh ngọc hay không thì vẫn chưa dám khẳng định, chỉ là suy đoán của giáo sư La, cấp trên sẽ không phê chuẩn điều động nhiều nhân lực như vậy đâu”.
“Bởi vậy lần này chúng ta đi, ngoài một vài trang bị cho du lịch lữ hành thì không mang theo thứ gì khác cả. Bắt tôi tập bắn súng mãi như thế, mà kết quả lần này cũng không cho tôi mang súng theo”.
Hàn Giang nhìn Đường Phong một cái, cười nói: “Đâu chỉ mỗi cậu không mang súng, tôi cũng có mang theo đâu”.
“Cái gì? Anh không mang súng theo!” - Đường Phong kinh ngạc, “Vậy ngộ nhỡ chúng ta gặp phải bọn tội phạm thì làm thế nào?”
“Đường Phong, cậu phải biết rằng, đặc công giỏi thật sự không cần phải mang theo bất cứ thứ vũ khí gì. Khi nào cần vũ khí, bất cứ thứ gì cũng có thể là vũ khí của chúng ta, kể cả một con dao gọt hoa quả. Hơn nữa cậu cũng có thể dùng vũ khí của kẻ địch. Bởi vậy nhân viên đặc công chúng tôi khi tập luyện không chỉ biết sử dụng mỗi loại súng máy chuyên dụng mà tất cả các loại súng của các quốc gia bọn tôi đều phải biết dùng”.
“Thảo nào anh và Triệu Vĩnh đều nắm rõ các loại súng như lòng bàn tay”.
“Thực tế lần này hành động cậu không cần phải quá lo lắng như vậy đâu, dù sao chúng ta cũng ở trong nước, đám tội phạm đó cũng không đến mức quá ngạo mạn. Hơn nữa, lúc nào ta cũng có thể yêu cầu sự chi viện của công an địa phương và Cơ quan an ninh quốc gia, bao gồm cả chi viện vũ khí. Bởi vậy lần này chúng ta sẽ đến đó giống như những người yêu thích du lịch lữ hành thực sự, nào cậu cứ thư giãn chút đi”.
“Mong là như thế, nếu như lần này quả thật là một chuyến du lịch vui vẻ thì tốt biết mấy!”

3

Đường Phong nhìn chằm chằm hồi lâu làm mây khói bên ngoài cửa sổ máy bay, đột nhiên anh quay mặt lại, khẽ ca thán: “Quả thực thời điểm này không phải là lúc thời tiết đẹp để đi du lịch, tháng mười mà lại tới vùng núi cao...”
Hàn Giang trợn mắt, nói nhỏ: “Đúng vậy, hiện giờ quả thực không phải là mùa đẹp nhất để đi du lịch, nhưng may mà lúc này vẫn chưa tới mùa đông, thế nên chúng ta phải đến đó trước khi mùa đông tới, hoàn thành…”
Hàn Giang vẫn chưa nói hết câu đã liền im bặt, Đường Phong ngạc nhiên quay lại nhìn Hàn Giang, chỉ thấy Hàn Giang đang nhìn chằm chằm về hàng ghế phía trước bên trái anh. “Sao thế?” - Đường Phong tò mò hỏi.
Đường Phong nhìn lên hàng ghế trước mặt, đó là hai người nước ngoài. Một ông già tóc bạc xám, nhìn tuổi tác cũng ngoài 60 tuổi, có lẽ cũng phải tới 70 tuổi, nhưng vai rộng lưng thẳng, thần thái vẫn rất trẻ trung. Người còn lại là một phụ nữ tóc ngắn màu nâu; người phụ nữ này khoảng ngoài 30 tuổi, phong thái duyên dáng, đang tập trung xem tạp chí.
“Sao thế? Anh phải lòng mỹ nữ đó rồi sao?” - Đường Phong nửa đùa nửa thật.
“Nói thật với cậu nhé, tôi thấy hai người nước ngoài đó không giống người bình thường?”
“Có gì đặc biệt? Không phải là hai người tới Trung Quốc du lịch sao?”
“Giống như ban nãy cậu nói, hiện tại không phải là mùa du lịch.”
“Có khi người ta không đến vùng núi cao như chúng ta, mà chỉ loanh quanh gần Tứ Xuyên, Thanh Thành Sơn, Lạc Sơn Đại Phật chẳng hạn!”
“Dù thế nào thì tôi cũng thấy hai người này không đơn giản, cậu phải tin vào trực giác của tôi”.
Hàn Giang và Đường Phong thì thầm to nhỏ, hình như đã đánh động tới mỹ nữ người nước ngoài ở hàng ghế trên. Người đẹp mặt vô cảm quay lại mắt đối mắt với Hàn Giang. Hàn Giang vừa nhìn thấy ánh mắt của người đẹp liền hấp tấp thu lại ánh nhìn. Anh không hiểu tại sao mình lại như vậy, ánh mắt luôn tự tin như chim ưng từng khiến anh tự hào, nhưng hôm nay lại… Hàn Giang quay đầu ra hướng khác, đột nhiên, một hình dáng quen thuộc xuất hiện trong mắt anh. “Lương Viện?!” - Hàn Giang giật mình kêu lên.
Nghe Hàn Giang thảng thốt, Đường Phong cũng nhảy dựng lên, nhìn theo ánh mắt của Hàn Giang. Quả nhiên, Lương Viện chậm rãi từ đầu lối đi tiến lại. Đường Phong rõ ràng không dám tin vào mắt mình, anh ra sức dụi mắt, không sai, chính là Lương Viện. Lúc này, Lương Viện ăn vận giống như một khách du lịch, khoác chiếc ba lô to màu xanh bước tới trước mặt Hàn Giang và Đường Phong, chưa kịp để hai người mở miệng, Lương Viện đã cười với Đường Phong: “Sao thế? Đường Phong, tôi nói rồi, trên thế giới này không ai có thể ngăn cản được bổn cô nương mà”.
“Cô… sao cô lại lên được đây?” - Đường Phong lắp ba lắp bắp hỏi.
“Tôi đã lên đây như thế này đây!” - Lương Viện đầy vẻ ngây thơ nói.
Đường Phong và Hàn Giang bốn mắt nhìn nhau, đối diện với cô tiểu thư Lương Viện này, hai người họ cũng hết cách. Hàn Giang nhìn Lương Viện gỡ ba lô xuống, hỏi: “Bên trong dày cồm cộm, đựng cái gì vậy?”
“Đều là những vật thiết yếu, còn có một vật quan trọng...” - Lương Viện đáp.
“Vật quan trọng?”
“Kệ tranh ngọc” - Lương Viện nói nhỏ.
“Cái gì? Sao cô lại đem kệ…” - Đường Phong ngạc nhiên tới nỗi hét thành tiếng, may mà bị Hàn Giang bịt ngay miệng lại mới không bật ra ngoài.
“Sao cô lại đem kệ tranh ngọc theo làm gì chứ?” - Đường Phong hạ giọng khẽ chất vấn Lương Viện.
“Ờ, kệ tranh ngọc là do ông nội tôi mua về, tôi thích thì mang theo, ảnh hưởng gì tới anh” - Lương Viện hùng hồn trả lời Đường Phong.
Đường Phong chán nản lắc lắc đầu, đáp: “Kệ tranh ngọc là của gia đình cô, nhưng hiện giờ nó đã không thuộc về riêng gia đình cô nữa, bởi vì nó còn mang những giá trị lớn hơn, giá trị thật sự của nó không chỉ có mười triệu tệ”.
“Được rồi! Được rồi! Đùa với anh thôi, xem anh căng thẳng chưa kìa, kệ tranh ngọc là tôi đem theo, nhưng đấy không phải là ý của tôi, tôi chẳng to gan thế đâu, tôi hiểu tầm quan trọng của kệ tranh ngọc. Là giáo sư La bảo tôi đem theo, giáo sư La nói rằng các anh trên đường thám hiểm, rất có khả năng cần tới kệ tranh ngọc. Cũng không phải tôi lén lút chạy tới đây mà là do giáo sư La bảo tôi đưa kệ tranh ngọc theo, không biết chừng lại thật sự có giá trị đấy!”
“Giáo sư La này, nhất định là trúng kế của cô nhóc lừa đảo này rồi!” - Hàn Giang cười, nói.
“Còn lâu ý! Giáo sư La chẳng ngăn cản gì tôi đến đây cả!” - Lương Viện vẫn muốn tranh cãi.
Đầu óc Đường Phong lúc này lại căng lên như dây đàn, chuyến đi này vẫn còn chưa biết sẽ gặp phải gian khó hiểm nguy gì, giờ lại thêm vướng chân, thật là… Đường Phong vừa nghĩ tới đây, trong lòng liền rối như tơ vò, nhưng khi anh nhìn thấy khuôn mặt ngây thơ đáng yêu của Lương Viện, lại không nỡ nói thêm điều gì.
Hàn Giang cũng trong bộ dạng bó tay, anh nhìn Đường Phong lắc lắc đầu, không nói thêm gì nữa, rồi từ từ, anh nhắm mắt lại. Cũng không biết là qua bao lâu sau, đột nhiên, máy bay bỗng lắc lư dữ dội, Hàn Giang lập tức mở trừng mắt, anh nhìn Đường Phong và Lương Viện bên cạnh đang hốt hoảng, rồi lại nhìn nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay: một động cơ bên trái máy bay đã không biết biến đâu mất, một động cơ khác cũng đã ngừng hoạt động, cánh trái máy bay rạch nát nền trời xanh, kéo theo vệt khói đen dài tít tắp…

4

“Chuyện gì thế này?” - Đường Phong hoảng hốt hỏi Hàn Giang.
“Máy bay xảy ra sự cố rồi!” - Hàn Giang lo lắng đáp.
“Xảy ra chuyện? Sự cố kỹ thuật? Hay là…?” - Đường Phong quá đỗi kinh ngạc.
“Không biết! Đừng hỏi tôi, tôi không phải là phi công!”
Trong khoang máy bay, tình hình bỗng trở nên hỗn loạn, cho dù là tiếp viên hàng không cố trấn tĩnh, duy trì nét mặt tươi cười đến thế nào đi chăng nữa, nhưng cũng không thể an ủi những hành khách đang hốt hoảng thất kinh, bởi tất cả mọi người đều cảm nhận được máy bay đang vù vù lao xuống. Hàn Giang di chuyển ánh mắt về phía cửa buồng lái, không biết phi công trong đó có thể ứng phó nổi với tình huống này hay không. Anh đột nhiên muốn manh động xông vào buồng lái. Anh tin rằng vào thời khắc này, trong số tất cả những người ở đây, mình chính là người có kinh nghiệm ứng phó với tình hình nguy hiểm này nhất.
“Chúng ta phải làm sao đây?” - Rõ ràng là Đường Phong chưa từng gặp phải tình huống này bao giờ.
“Không thể ngồi nhìn máy bay rơi xuống thế này được, tôi nghĩ chúng ta có thể làm điều gì đó.” - Hàn Giang vừa nói, vừa đứng dậy khỏi ghế, bước nhanh tới buồng lái. Đường Phong cũng lắc lắc lư lư đứng dậy, đi theo Hàn Giang vào trong đó.
Máy bay vẫn đang lao xuống với tốc độ chóng mặt, Hàn Giang đưa thẻ cho tiếp viên đứng ngoài cửa buồng lái, sau đó nói: “Để tôi thử xem sao, biết đâu lại hữu dụng”. Vậy là, tiếp viên dẫn Hàn Giang và Đường Phong vào buồng lái, trong buồng lái, cơ trưởng và phi công đang rối tung cả lên, thử mọi cách để khống chế máy bay.

Máy bay đã mất liên lạc với trung tâm chỉ huy, mặc cho cơ trưởng kêu gọi thế nào đi chăng nữa cũng không có bất cứ tín hiệu gì. Máy bay hiện giờ chỉ còn một bên động cơ đang hoạt động, nên không ngừng lao xuống vun vút. Vẻ mặt của cơ trưởng và phi công vô cùng lo lắng, Hàn Giang nói với cơ trưởng: “Tôi đã từng lái máy bay, có lẽ tôi có thể giúp các anh”.
Hàn Giang vẫn giữ được sự bình tĩnh trên nét mặt, nhưng sau khi anh ngồi lên vị trí cơ trưởng, chẳng mấy chốc anh đã hiểu ra rằng chút kinh nghiệm lái máy bay của mình cơ bản không đủ để ứng phó với tình huống đặc biệt này. Mấy phút sau, trên trán Hàn Giang đã đọng vệt mồ hôi…
“Để tôi thử xem sao!” - Sau lưng Hàn Giang bỗng vang lên một giọng nói lơ lớ, Hàn Giang, Đường Phong, cơ trưởng và phi công cùng nhau quay đầu lại nhìn: trước cửa buồng lái là ông lão người nước ngoài tóc bạc xám, phía sau ông lão còn có một phụ nữ tóc ngắn màu nâu. Hàn Giang và Đường Phong nhận ra ngay hai người nước ngoài ban nãy trong khoang máy bay. Hàn Giang và ông lão đó bốn mắt nhìn nhau, chỉ thấy ông lão trước mặt mũi cao mắt sâu, tóc bạc xám, xem ra tuổi tác không thể dưới 70, nhưng hai mắt lại rực lên như hai ngọn đuốc, cơ thể tráng kiện rắn rỏi. Một câu tiếng Trung lơ lớ, không giống thỉnh cầu, mà giống mệnh lệnh không dễ hoài nghi hơn. “Người này quả nhiên không hề tầm thường!” - Hàn Giang thêm bước nữa chứng thực cho phán đoán trước đây của bản thân.
Khi Hàn Giang vẫn còn đang chần chừ, ông lão người nước ngoài đó liền móc ra hộ chiếu của mình, giới thiệu với mọi người: “Trước đây khi phục vụ trong quân đội, tôi lái máy bay và cũng từng gặp phải sự cố này, các anh hãy để tôi thử xem sao”.
Đường Phong chú ý tới thông tin trên hộ chiếu của ông lão nước ngoài này: “Ivan Petrovich Makarov, người Nga…”
Hàn Giang quệt vệt mồ hôi trên trán, nhìn Makarov, anh đang khẩn trương phán đoán, giao máy bay cho một người nước ngoài khống chế?... Tuy bản thân từng được học qua kỹ năng lái máy bay, nhưng chưa từng gặp phải tình huống như thế này, anh quay lại nhìn cơ trưởng, vị cơ trưởng trẻ tuổi này e rằng cũng chưa từng gặp phải tình huống nào nguy hiểm như vậy, xem ra đành phải mạo hiểm thôi. Nghĩ tới đây, Hàn Giang hạ quyết tâm, nhường vị trí cơ trưởng và quay sang ông lão Makarov nước ngoài này, nói: “Tiếp theo phải trông cậy vào ngài rồi!”
Hàn Giang ngồi vào vị trí phụ lái, quay lại nói với mọi người: “Các anh hãy ra ngoài trấn an hành khách để yên tâm trước đã, chúng ta sẽ không sao cả”.
Đường Phong cùng mọi người lui hết ra khỏi buồng lái, trong buồng lái chỉ còn lại Makarov và Hàn Giang. Lúc này, chiếc máy bay trong trạng thái mất kiểm soát, đã hoàn toàn xa rời đường bay, rơi chếch xuống hướng tây bắc…
Makarov sau khi tìm hiểu độ cao và các loại tham số của máy bay, quả quyết nói: “Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa, không có sân bay để có thể hạ cánh, đành phải tìm chỗ nào đó hạ cánh gấp vậy”.
“Tìm chỗ nào đó? Ông có biết chúng ta hiện đang ở đâu không?” - Hàn Giang cảm thấy ý kiến của Makarov hoàn toàn không ăn khớp với thực tế.
Makarov nhìn Hàn Giang một cái rồi đáp: “Đương nhiên là tôi biết, phía dưới chúng ta là núi non trùng điệp, ở đây núi non dựng đứng hiểm trở, vực sâu thăm thẳm, hang động ngang dọc, thực tế rất khó tìm thấy một vùng đất bằng phẳng thích hợp để hạ cánh, nhưng dùng một câu tục ngữ của người Trung Quốc các bạn là: Thế gian không có con đường cùng ”.
“Vậy ông có cách gì?”
“Phải khống chế được máy bay trước đã, bay về hướng tây bắc, ở đó chắc sẽ có chỗ thích hợp để hạ cánh”.
Hàn Giang lắc lắc đầu, cũng chỉ thế thôi, một phút, hai phút, ba phút… năm phút sau, cuối cùng Makarov và Hàn Giang đã lại khống chế chiếc máy bay như một kỳ tích, tốc độ rơi xuống của máy bay rõ ràng đang giảm, nhưng họ biết máy bay không thể chống cự được quá lâu, họ bắt buộc phải lập tức tìm thấy vùng đất thích hợp để hạ cánh.
trangceline2008 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn
Old 07-03-2012, 09:03 AM   #30
trangceline2008
Mọt sách
 
Tham gia ngày: Oct 2010
Bài gởi: 203
Xin cảm ơn: 7
Được cảm ơn 904 lần trong 168 bài
Default

5

Máy bay tiếp tục rơi xuống, 3800 mét, 3700 mét, 3600 mét, 3500 mét, 3400 mét… máy bay xuyên qua tầng mây, đột nhiên, Hàn Giang trợn trừng mắt, nói: “Trước mặt có một ngọn núi, mau, mau kéo lên, kéo lên!”
Makarov gần như cùng lúc cũng nhìn thấy đỉnh núi phía trước, ông kéo mạnh cần điều khiển, một bên cánh máy bay và quạt đuôi máy bay điều chỉnh phương hướng, thân máy bay lệch sang bên trái, gần như áp vào sườn núi, vụt qua mỏm núi.
Hàn Giang thở phào nhẹ nhõm, nói: “Ban nãy thật là nguy hiểm!”.
Makarov không nói gì, vẫn vô cùng bình tĩnh, nhưng, Hàn Giang đã nhìn thấy vệt mồ hôi ướt đẫm trên trán ông. Đột nhiên, Makarov cười khan hai tiếng kỳ dị, Hàn Giang không hiểu: “Ông cười gì vậy?”
“Tôi đã nói rồi, thế gian không có con đường cùng, cậu xem trước mặt là cái gì?”
Hàn Giang nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay – đồng cỏ trên núi cao! Anh lập tức hiểu ra ý của Makarov: “Ông chuẩn bị hạ cánh xuống đây?”
“Còn có chỗ nào thích hợp hơn chỗ này sao?” - Makarov vặn lại.
Hàn Giang gật đầu: “Đúng vậy, ở đây có thể hạ cánh, chỉ có điều…”
“Gì vậy?”
“Chỉ có điều… ông có để ý thấy không, từ góc độ của chúng ta nhìn ra, đồng cỏ trên núi cao này phía trước thì cao phía sau thì thấp, đằng sau lại toàn là bụi rậm, phía sau nữa lại là rừng rậm nguyên sơ. Nếu như chúng ta hạ cánh xuống đồng cỏ, rất có khả năng sẽ lao vào trong rừng rậm, nếu như không khống chế được, đâm vào cây to, hậu quả sẽ…”
“Hiện giờ không quan tâm được nhiều như thế đâu, nhiên liệu sắp hết rồi, đành phải mạo hiểm thôi, anh đi gọi cơ trưởng và mọi người giúp đỡ hành khách thực hiện phương án phòng hộ, ba phút sau, bắt đầu hạ cánh”.
Cơ trưởng dẫn tổ tiếp viên giúp đỡ hành khách chuẩn bị các phương pháp phòng hộ, mọi thứ chuẩn bị xong xuôi, Makarov dán mắt về đồng cỏ trên núi cao phía trước, ông quyết định không thả bánh xe máy bay xuống mà, trực tiếp hạ cánh bằng bụng máy bay. Làm như vậy, có hai nguyên nhân: một là bởi vì bánh xe bên trái đã bị hỏng, chỉ dùng hai bánh xe còn lại hạ cánh thì máy bay sẽ không vững; hai là để tăng độ ma sát, cố gắng hết sức khẩn cấp hạ cánh thành công trong cự ly ngắn, tránh cho máy bay lao vào rừng rậm.
Hàn Giang tính toán qua một chút, cự ly hạ cánh thích hợp của đồng cỏ chỉ chưa đầy 200 mét, tiếp theo đó là dãy bụi rậm hơn 100 mét, sau đó là đến rừng rậm rồi. Makarov điều khiển máy bay hạ cánh chuẩn xác trên đồng cỏ địa hình đổ dốc này, “Xẹt…..két… két!” bụng máy bay cọ sát mạnh vào đồng cỏ, may mà trên đồng cỏ có chút ẩm ướt , tránh khỏi ma sát kịch liệt dẫn đến khả năng tóe lửa.
Nhưng, đồng cỏ vẫn quá trơn, mà chỉ dài không tới 200 mét nên cơ bản không thể khiến máy bay dừng lại được. Máy bay lao thẳng vào bụi rậm, cát bụi, đất đá, củi khô, cành cây cùng lúc cuộn cả lại. Những bụi rậm thấp lè tè đã làm giảm tốc độ của máy bay, nhưng đồng thời cũng cọ vào bụng máy bay làm tóe lửa. Cánh bên trái máy bay nặng trình trịch, một tiếng nổ lớn phát ra, cánh bên trái đứt lìa, thân máy bay đột nhiên nghiêng hẳn sang bên trái, hành khách trong khoang máy bị lắc mạnh văng ra tứ phía, tiếng kêu thét thất thanh, tiếng gào khóc rền rĩ vang lên.
Trong buồng lái, Hàn Giang đã làm theo yêu cầu của Makarov bò rạp người xuống. Makarov ngồi trên ghế cơ trưởng vẫn ra sức khống chế máy bay, hy vọng máy bay không lao vào rừng rậm. Tốc độ của máy bay càng lúc càng chậm lại, nhưng cách rừng rậm cũng càng lúc càng gần rồi. Makarov trợn trừng mắt, con ngươi của ông đang mở to hết cỡ, ông đã có thể nhìn rõ cây đại thụ chọc trời ngay trước mặt…
“Rầm…!” - Lại thêm một tiếng nổ lớn, máy bay vẫn không tránh khỏi việc đâm sầm vào cây đại thụ đó, may mà tốc độ lúc này đã chậm lại rất nhiều, sau khi đâm vào thân cây đại thụ, cuối cùng máy bay đã dừng lại. Chính trong giây phút máy bay đâm vào cây đại thụ, một cành cây khô có đường kính to bằng miệng bát, đã đâm vỡ cửa kính máy bay, chọc thẳng vào Makarov, Makarov không kịp né người, bị cành cây khô rạch rách vai, máu chảy đầm đìa.
Mọi thứ đã yên tĩnh trở lại, tiếng động cơ máy, tiếng ma sát giữa bụng máy bay và mặt đất, tiếng gào thét thất kinh, lúc này đều đã biến mất, trong khu rừng rậm nguyên sơ hoang vu này, chỉ còn lại tiếng khóc lóc và tiếng rên rỉ vọng ra từ khoang máy bay.
Hàn Giang lảo đảo nhoài người dậy, cánh tay trái của anh bị một vết rách, nhưng anh không buồn để ý tới điều đó mà lao ngay tới bên cạnh Makarov, hô lên: “Ông không sao chứ?”.
Makarov khó nhọc mở to mắt, cố nở một nụ cười: “Tôi vẫn sống” - nói xong ông lại ngất lịm đi.
Hàn Giang thở phào một cái, nhưng ngay lập tức anh phát hiện ra máu vẫn đang tuôn xối xả trên vai của Makarov, anh nói: “Ông đừng cử động, để tôi ra ngoài tìm thuốc cho ông”.
Cú va đập mạnh khiến cho cửa khoang buồng lái đã hoàn toàn bị biến dạng, Hàn Giang mất rất nhiều sức lực, khó khăn lắm mới đạp được cửa ra ngoài. Mọi người trong khoang hành khách đổ nghiêng đổ ngả, người thì đang rên rỉ, người thì đang khóc lóc, chỉ có Đường Phong và tổ tiếp viên, và cả người đẹp cùng đi với Makarov là đã bò dậy. Hàn Giang tìm một chiếc rìu, bổ mạnh vào cửa máy bay, cửa bật ra, một luồng không khí tươi mới lạnh buốt xuyên thấu vào khoang máy bay, đem lại tia hy vọng mới cho tất cả mọi người đang tuyệt vọng trước cái chết.
Hàn Giang là người đầu tiên bò ra khỏi khoang máy bay, trước mắt anh là một vùng rừng rậm âm u. Đối diện với vùng rừng rậm tối đen này, Hàn Giang không biết điều gì đang chờ đợi họ phía trước. Hy vọng được sống sót trở về hay là lại tiếp diễn những ác mộng đáng sợ đây?

6

Tất cả hành khách đều được đưa ra khỏi máy bay, cơ trưởng đếm số người, cộng thêm cả tổ phi công và tiếp viên, tổng cộng có 48 người, không ai thiệt mạng. Đây cũng có thể coi là một kỳ tích không lớn cũng không nhỏ trong lịch sử ngành hàng không rồi, nhưng có mười mấy hành khách bị thương cũng nghiêm trọng, nếu không kịp thời cứu chữa khả năng sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Dưới sự giúp đỡ của Đường Phong, Hàn Giang và Lương Viện, người đẹp tóc nâu dìu Makarov đang hôn mê ra khỏi buồng máy, đặt ông dưới một gốc thông khuất gió. Makarov mở mắt, nhìn Hàn Giang và Đường Phong, rồi lại quay sang người đẹp tóc nâu, miệng lắp bắp: “Yelena, cha không sao đâu, con đừng quá đau buồn”.
Yelena nghe những lời Makarov nói, gật gật đầu, quệt lệ nơi khóe mắt, quay lại máy bay, lấy thuốc và băng gạc ra lau rửa vết thương cho Makarov, sau đó lại băng bó lại. Hàn Giang và Đường Phong cũng túc trực bên cạnh Makarov, nhặt nhạnh cành cây, nhóm một đống lửa, nhiệt độ trên núi chỉ khoảng 4 đến 5 độ, nên chỉ có đống lửa mới có thể đem lại chút hơi ấm cho ông ấy. Chờ Yelena băng bó vết thương cho Makarov xong, Hàn Giang thử hỏi cô ta bằng tiếng Anh: “Cô là bác sỹ à?”.
Yelena nhìn Hàn Giang, không trả lời, Hàn Giang tưởng rằng cô gái xinh đẹp lạnh lùng này không biết tiếng Anh, vậy là anh quay sang Đường Phong. Đường Phong hiểu ý, hỏi lại lần nữa bằng tiếng Pháp.
Đường Phong hỏi xong, vẫn chưa thấy Yelena đáp lại, đang định mở miệng hỏi thêm lần nữa thì Yelena liền trả lời bằng thứ tiếng Hán rất trôi chảy: “Đúng vậy, tôi là bác sỹ”.
Hàn Giang và Đường Phong vô cùng bất ngờ, gần như cùng lúc nói: “Cô nói tiếng Trung giỏi vậy sao?”
“Hai anh làm gì vậy?” - Yalena hỏi lại.
Hàn Giang cướp lời tự mình giới thiệu trước: “Tôi là Hàn Giang, nghề nghiệp cảnh sát”. Sau đó chỉ Đường Phong: “Anh ấy là Đường Phong, là giảng viên đại học, bạn của tôi, hai chúng tôi tới Tứ Xuyên du lịch”.
“Ồ? Cảnh sát biết lái máy bay? Cảnh sát Trung Quốc các anh đều giỏi vậy sao?” - Yelena có vẻ không hề tin vào lời giới thiệu của Hàn Giang.
Hàn Giang thầm tự trách mình, bình thường vốn đầu óc phản ứng nhanh nhạy, nhưng dường như trước người đẹp này anh lại bị mất hồn, sao lại nói làm cảnh sát chứ, ban nãy cứ nói là phi công của công ty hàng không thì có hơn không. Giờ đã đâm lao thì đành phải theo lao, anh cố gắng giải thích: “Trước đây tôi từng phục vụ trong quân đội”.
“Không quân?”
“Không! Hải quân.”
“Hải quân không chiến ư?”
“Ừm! đúng vậy.” - Hàn Giang càng giải thích càng không bình thường. Anh bắt đầu nghi ngờ đầu óc của mình, hay là lúc hạ cánh đập vào đâu nên có vấn đề nhỉ?
Hàn Giang ra sức che giấu thân phận của mình, anh đứng thẳng đơ trước mặt Yelena, giống như đứng trước kẻ địch, sợ rằng người đẹp ngoại quốc đứng trước mặt anh lại đặt ra câu hỏi moi móc gì đó, vạch trần thân phận thật sự của anh.
“Cởi áo ra đi” - Yelena đột nhiên ra lệnh.
“Cái gì?” - Hàn Giang giật mình không tin vào tai mình.
“Tôi bảo anh cởi áo khoác ra, để tôi băng lại vết thương cho”.
Hàn Giang lúc này mới tỉnh lại, anh cởi áo khoác, để lộ ra cơ bắp rắn chắc, rồi ngồi yên cho Yelena sát trùng, lau rửa, băng bó vết thương trên cánh tay trái. Đường Phong đứng bên cạnh cười đầy ẩn ý, Hàn Giang nghe vậy ngoái đầu, hậm hực lườm Đường Phong một cái.

7

“Cô Yelena, tôi mạo muội xin hỏi cô là người nước nào vậy?” - Hàn Giang mở lời.
Lúc này, Yelena đã băng bó vết thương cho Hàn Giang xong, nghe Hàn Giang hỏi, cô kiêu ngạo nhìn thẳng vào anh, hỏi ngược lại: “Ngài cảnh sát tiên sinh, ngài muốn kiểm tra hộ chiếu của tôi sao?”
“Không…” - không để Hàn Giang nói hết, Yelena liền lôi cuốn hộ chiếu trong chiếc túi nhỏ mang bên mình ra, “bộp” một cái, cuốn hộ chiếu đã nằm gọn trong tay Hàn Giang. Hàn Giang không ngờ Yelena lại dùng chiêu này, anh hơi sững sờ, nhưng vẫn mở cuốn hộ chiếu của Yelena ra – Yelena Yiluovanuna Makarov, người Nga, nhập cảnh ba ngày trước tại Bắc Kinh.
Nhìn họ tên và tuổi tác, Yelena có vẻ như là con gái của Makarov, Hàn Giang gập hộ chiếu lại, trả cho Yelena rồi hỏi: “Ông lão đó là gì của cô?”
Yelena tỏ ra rất khó chịu với câu hỏi này của Hàn Giang, vẫn với vẻ ngạo mạn, cô nhìn chằm chằm Hàn Giang một cái. Lúc này Makarov đang nằm dưới gốc cây kế bên đã tỉnh lại, thần thái của ông xem ra đã tốt hơn ban nãy rất nhiều. Makarov vươn vươn vai, nói với Hàn Giang và Đường Phong: “Các cậu cứ gọi tôi là Makarov, Ivan Petrovich Makarov, theo thói quen của người Trung Quốc, các cậu cũng có thể gọi tôi là ông Mã, đây là con gái út Yelena của tôi”.
“Makarov tiên sinh, lần này mắc nợ ngài nhiều quá, nếu như không có ngài, hậu quả thật sẽ không thể tưởng tượng nổi” - Hàn Giang cảm kích nói.
Makarov hất hất tay: “Tôi cả đời làm việc trong quân đội đã từng trải qua tình huống như thế này, không ngờ lần này về hưu rồi mà vẫn gặp phải.”
“Ngài cũng từng phục vụ trong quân đội sao?” - Hàn Giang hỏi.
“Đúng vậy, tôi phục vụ cho quốc gia 40 năm, cho tới khi về hưu.”
“Trong không quân?”
“Đúng vậy, không quân, phi công, phi công công huân.”
“Vậy thì ngài nhất định đã từng lái chiếc Su-27 rồi?” Đường Phong tò mò hỏi.
“Khà khà, chàng thanh niên, Su-27, Mi-29, hầu hết tất cả những máy bay của gia tộc Mi và gia tộc Sukhoi tôi đều đã lái qua, còn cả máy bay ném bom chiến lược Tu-160, cảm giác đó quả thật quá tuyệt”.
“Ngài cừ quá, từng lái nhiều máy bay như vậy! Thảo nào có thể hạ cánh thành công!” - Đường Phong ca ngợi.
“Thế vẫn chưa là gì đâu, tôi còn đã từng lái máy bay của Mỹ nữa!” - Makarov chìm đắm trong hồi ức về những ngày tháng huy hoàng đã qua.
“Vậy thì theo ngài, tại sao máy bay của chúng ta sao lại xảy ra sự cố?” - Hàn Giang thỉnh giáo, làm đứt quãng hồi ức của Makarov.
“Xem ra có vẻ như là sự cố máy móc dẫn đến động cơ ngừng hoạt động trên không trung, nhưng cũng không thể ngoại trừ khả năng khác” - Makarov phán đoán.
“Khả năng khác?” - Đường Phong kinh ngạc.
“Ý ngài là khả năng có người phá hoại?” - Hàn Giang hạ giọng nói.
“Không! Tôi chỉ nói không loại trừ bất cứ khả năng nào, nguyên nhân chính dẫn đến máy bay hạ cánh khẩn cấp thì chỉ có đợi ban ngành hữu quan sau khi kiểm tra mới biết được”.
“Nếu như có người phá hoại thì đáng sợ quá!” - Lương Viện hoảng hốt nhìn xung quanh.
Đường Phong cũng nhìn xung quanh, đột nhiên anh phát hiện ra cách chỗ họ không xa lắm có hai người đàn ông uể oải đang nằm bò dưới gốc cây thông, Đường Phong tiến lên phía trước hỏi: “Các anh không sao chứ?”
Người đàn ông trung niên đeo kính gọng vàng, xem ra thần sắc vẫn khá ổn, đang nhàn hạ hút thuốc bằng ống tẩu, nghe thấy vậy liền đứng dậy nói với Đường Phong: “Tôi vẫn ổn, chỉ có vị này là rơi từ trên ghế ngồi xuống lúc máy bay hạ cánh”.
“Hai anh đi cùng nhau sao?” - Hàn Giang cũng bước lên.
Người đàn ông trung niên lắc đầu: “Tôi quen anh ấy trên máy bay, ghế của chúng tôi cạnh nhau, anh ấy tên là Stephen, từ Mỹ tới, còn tôi, đây là danh thiếp của tôi, mong nhận được sự quan tâm!”
Nói xong, người đàn ông trung niên lấy từ trong túi ra một xấp danh thiếp, kính cẩn đưa cho Đường Phong và Hàn Giang. Đường Phong vừa nhìn thấy tấm danh thiếp này liền chau mày, chỉ thấy tấm danh thiếp to hơn hẳn những danh thiếp thông thường này có in: Tiến sỹ khoa học - Đại học Oxford, tiến sỹ công trình học - Học viện Imperial, tiến sỹ lịch sử học - Đại học Yale, tiến sỹ quản trị kinh doanh - Đại học Columbia, tiến sỹ giáo dục học - Đại học Mátxcơva…

8

Đường Phong cầm danh thiếp, đọc tới nỗi hoa cả mắt, lòng nhủ thầm: kỳ tài vậy sao, mà sao mình từ trước tới nay chưa từng nghe danh nhỉ? Anh đưa mắt chuyển tới dòng cuối cùng của loạt chữ này, “Từ Nhân Vũ? Tiến sỹ Từ?” Đường Phong lẩm bẩm đọc dòng họ tên sau dòng chức danh.
“Chính là tại hạ” - Từ Nhân Vũ tươi cười rạng rỡ nói. Nhưng anh ta lập tức phát hiện ra có chỗ nào đó không bình thường, nên vội vàng móc ra một tấm danh thiếp, đưa cho Đường Phong, bối rối giải thích: “Ồ! Tấm ban nãy là danh thiếp trước đây của tôi, khoe khoang quá, khoe khoang quá, bởi vì lúc đó tôi không hiểu một đạo lý rằng, làm người nên khiêm tốn, nhất định phải khiêm tốn”.
Đường Phong đón lấy tấm danh thiếp mới từ tay Từ Nhân Vũ, thấy trên danh thiếp chỉ còn lại dòng tiêu đề: Tổng giám đốc công ty quốc phòng Tần Bình – tiến sỹ Từ Nhân Vũ.
“Công ty quốc phòng Tần Bình? Chế tạo vũ khí sao?” Hàn Giang hỏi.
“Không! Không! Chỉ là mấy thứ cò con, vớ vẩn thôi, đạn cao su, đạn hơi cay, có lúc cũng sản xuất một ít súng máy các loại. Đối tượng phục vụ của chúng tôi chủ yếu là công ty bảo vệ và phía cảnh sát” - Từ Nhân Vũ giải thích.
“Nói như vậy thì tôi chính là đối tượng phục vụ của anh rồi. Biết chơi súng không?” - Hàn Giang cười hỏi Từ Nhân Vũ.
“Biết chút ít, chỉ có điều chơi không giỏi lắm, tôi chủ yếu phụ trách nghiên cứu chế tạo sản phẩm”.
“Tiến sỹ, hình như ở nước ta vẫn chưa có công ty nào như vậy thì phải?” - Đường Phong hỏi lại Từ Nhân Vũ.
“Bởi thế nên công ty chúng tôi mới đăng ký ở Mỹ, có văn phòng đại diện tại Singapore, khà khà!” - Từ Nhân Vũ giải thích.
“Thế lần này anh tới để…” - do tình huống bất ngờ lần này nên với bất kỳ ai Hàn Giang cũng đều đề cao cảnh giác.
“Lần này tôi đến Thành Đô chủ yếu để thăm vài người bạn, không ngờ đến đây… thì xảy ra chuyện! Anh xem, bây giờ điện thoại cũng không gọi được, mấy người bạn của tôi còn chuẩn bị đón tiếp tẩy rửa bụi trần cho tôi nữa đấy!” - Từ Nhân Vũ sốt sắng phân trần.
“Đón tiếp tẩy rửa bụi trần? Lùi lại vài ngày cũng không muộn, ít nhất anh cũng giữ được mạng sống của mình rồi!” - Hàn Giang nói xong, cúi người xuống xem tình hình vết thương của Stephen. Stephen cắn chặt răng, trán đổ mồ hôi hột, nhưng sau khi Hàn Giang kiểm tra thì kết luận vết thương của Stephen không quá nghiêm trọng, trừ một số vết thương ngoài da, thì có cánh tay trái bị trật khớp. Hàn Giang cười, nói với Stephen: “Tôi thấy anh giống người Trung Quốc, sao lại lấy tên người nước ngoài vậy?”
Vừa hỏi, Hàn Giang vừa thừa lúc Stephen không để ý liền dồn sức, “rắc” một cái, cánh tay trái trật khớp của Stephen đã trở lại bình thường. Hàn Giang đứng dậy, phủi phủi tay nói: “Không sao nữa rồi, đứng dậy đi đi. Nhìn anh là biết thiếu luyện tập thể thao, chút chấn thương này mà cũng đau đến thế sao?”
Stephen dường như không buồn ghi nhận sự giúp đỡ của Hàn Giang, anh ta nhìn chằm chằm Hàn Giang một lúc rồi mới chống cánh tay phải ngồi dậy, mở miệng nói: “Stephen Mã, người Mỹ gốc Hoa” - nói xong câu này, anh ta liền tựa vào gốc cây, nhắm mắt lại, không để ý đến mọi người nữa.
“Người Mỹ gốc Hoa, như vậy nghĩa là anh ta họ Mã?” Đường Phong rì rầm nói nhỏ với Hàn Giang.
Hàn Giang không nói gì cả, anh lại nhìn Stephen một cái rồi cùng Đường Phong quay lại bên cạnh Makarov và Yelena. Lúc này, Lương Viện khó khăn lắm mới tìm thấy ba lô và hành lý của mình trong bộ khung tàn của máy bay, Đường Phong nhìn bộ dạng kéo ba lô và hành lý lôi thôi lếch thếch của Lương Viện liền cười, nói: “Bảo cô đừng có đi, cô lại đòi đi cho bằng được, giờ thì hối hận rồi chứ?”
“Tôi thèm vào hối hận! Bổn cô nương không phải vẫn khỏe mạnh đây sao! Anh đúng là đồ xấu xa, đến mức này rồi mà còn nhiếc móc tôi…” - Tuy Lương Viện đã kìm nén, nhưng vừa nói cái đã bật khóc.
Đường Phong nhìn bộ dạng Lương Viện, bỗng nhớ tới lời dặn dò gửi gắm của Lương Dũng Tuyền, thấy có chút ái ngại, anh vội vàng giúp Lương Viện lau nước mắt trên má, và nói: “Đừng buồn nữa, ban nãy tôi chỉ định đùa cô chút thôi, chủ yếu là tôi lo lắng cho thứ trong túi cô kia”.
Đất cát và nước mắt trên mặt Lương Viện đã khiến khuôn mặt vốn xinh đẹp của cô trở nên nhem nhuốc. Sau khi cùng Đường Phong kiểm tra kệ tranh ngọc trong túi xong, cô mới yên tâm trở lại, vừa cười vừa quệt nước mũi.
Đường Phong, Hàn Giang, Lương Viện, Makarov và Yelena năm người chụm lại quanh đống lửa. Đường Phong gọi Từ Nhân Vũ và Stephen lại; Từ Nhân Vũ rất phấn khởi định lao tới nhưng Stephen lại không muốn đi, ngồi im lìm dưới gốc cây. Từ Nhân Vũ bước đi vài bước, quay đầu lại phát hiện ra Stephen vẫn chưa buồn nhúc nhích, đành phải bối rối hất hất tay về phía Đường Phong rồi quay lại bên cạnh Stephen. Stephen và Từ Nhân Vũ cũng nhóm một đống lửa nhỏ, đối diện nhưng cách nhóm của Đường Phong một khoảng xa xa.
“Đúng là đồ dị hợm” - Lương Viện khẽ oán thán.
“Mỗi người đều có cách nghĩ riêng của họ, không nên bắt ép” - Đường Phong nói.
“Chúng ta không thể cứ ngồi đây chờ chết được, phải nghĩ cách để nhanh chóng thoát ra ngoài thôi!” - Hàn Giang đột nhiên nói.
Lời của Hàn Giang khiến mọi người cùng chìm trong im lặng. Mọi người không ai bảo ai mà đều cùng lúc hướng mắt nhìn ra xung quanh, xung quanh ngoài rừng rậm thì chỉ có rừng rậm… Hàn Giang ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, trời sắp tối rồi, tầng mây rất thấp, xem ra đêm nay sẽ có mưa, anh bắt đầu hối hận về sự tự tin thái quá của mình. Quả thật, cho dù thế nào đi chăng nữa, cũng nên nghe lời Đường Phong mang theo vũ khí mới phải.
trangceline2008 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:
Hiện/Ẩn danh sách thành viên đã cám ơn

Trả lời

Bookmarks

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ GMT. Giờ hiện tại là 12:25 AM.



vBulletin Optimisation by vB Optimise.